Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Tin tức Phật sự >>  Quốc nội
Thờ Phật Và Thờ Thánh Mẫu Vùng Đồng Bằng Nam Bộ
Về những sinh hoạt “tín ngưỡng hỗn dung” trong vùng đồng bằng sông Cửu Long nhiều tài liệu Đại Nam Địa Dư Chí, mục Văn Hóa cho biết : Núi Bà Rịa phía bắc có ngôi chùa Thần Nữ, núi Thủy Vân ngoài mỏm núi có ngọn Thần Nữ, tục gọi là mỏm Đinh Cô; núi Thần Mẫu, trong động có đền thờ đức Quán Thế Âm lẫn Thần Nữ.
Tại nhiều chùa miếu ở Long An, tục thờ Mẫu và Bồ Tát cũng khá phổ biến, nhiều gia đình thờ hỗn dung ngay trong nhà mình. Ca dao Nam Bộ có đoạn : "Phụng hoàng đua, chim sẻ cũng đua, Anh dạo chơi trước miễu, sau chùa, Đụng người mua bán, quê mùa thiếu chi..." Chúng ta cũng thấy sự hỗn dung này đã được lập lại ở một trung tâm thờ Mẫu khác ở miền Nam Việt Nam, tức là điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen, Tây Ninh. Trên một lộ trình dài theo triền núi, cả một hệ thống chùa và điện được kiến tạo dày đặc. Lâu lâu, lại được dựng lên một am nhỏ trên đưòng đi và lập tức được khách hành hương dừng lại để khấn vái. Kể từ chân núi lên đến đỉnh núi Bà Đen gồm có: chùa Trung, Linh Sơn Tiên Thánh Tự, chùa Mới, điện Bà, chùa Hang, chùa Đảnh (đỉnh núi). Chùa Đảnh thì nay chỉ còn lại nền của chùa, do những phá hoại trong chiến cuộc vừa qua. Những hình thức thờ phượng sầm uất nhất trong hệ thống này đều tập trung tại chùa Hang. Ngày trước mang tên là chùa Đá, đường lên khó khăn. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí đời Nguyễn có ghi lại quang cảnh ở nơi đây như sau : " Lưng núi (Bà Đen) có chùa Đá, ít người đi đến, nhưng nay thì hoàn cảnh đã khác hẳn. Hệ thống thờ phượng tại đây như sau : Từ bậc cấp ngoài vào thì sau chánh điện thờ Phật lại có 2 miếu thờ Tiêu Diện Đại Sĩ và thờ Diêu Trì Kim Mẫu cách nhau không xa. Bước vào cửa thì thấy ngay những pho tượng Hộ Pháp và Thập Điện Diêm Vương. Kế đó là tượng đức Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát mà người thuờng dâng cúng lễ rất trang trọng trong ngày Tự tứ rằm tháng bảy, ngày Xá tội Vong nhân tức là lễ Vu Lan Báo Hiếu. Ngay sau đó là ba pho tượng ngay hàng là : Đức Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật Cửu Long (Phật đản sinh) ở chính giữa, bên trái (kể từ ngoài nhìn vào) là tượng đức Quán thế Âm Bồ Tát Chuẩn Đề; bên phải cũng là tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát cầm cành dương liễu và bình nước cam lộ. Vào sâu hơn là ba pho tượng Tam Thế Phật (đức Thích Ca, đức Di Đà, đức Di Lặc). Một tầng sâu hơn là tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế song song với đức Địa Tạng Vương Bồ tát. Sau cùng hết là tượng bà Chúa Xứ màu trắng trong tư thế ngồi (bên phải) và tượng Linh Sơn Thánh Mẫu, màu đen, trong tư thế ngồi (ở bên trái). Nhìn chung, việc thờ Mẫu rất phổ biến khắp các đình miếu, nếu không thờ ngay trong chánh điện, thì cũng được thiết lập am thờ riêng ở sân; đó là miếu của Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành Nương Nương, Bà Chúa Xứ Nương Nương, Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương Nương, Linh Sơn Thánh Mẫu, Kim Hoa Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Thủy Long Thần Nữ, Bà Mẹ Thai Sinh... Xem như thế, ta thấy người Việt trong nhiều tỉnh ở miền Nam Việt Nam, nguồn tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn đang còn tiếp tục phát triển trên nhiều chiều hướng khác nhau. Bất cứ ở đầu có đền miếu thờ Thần, thì tại nơi đó thường có thờ Mẫu. Thờ Mẫu không những phổ biến trong không gian, mà còn phong phú, đa dạng về nội dung ý nghĩa nữa. Tại vùng này, cũng có những thời kỳ tiếp thu văn hóa của người Khmer, người Chăm Pa, người Hoa. Tuy nhiên, không chỉ tiếp thu, ảnh hưởng, mà người Việt ở Nam Phần thực sự đã hình thành nguồn tín ngưỡng phổ biến, mang tính chất thiêng liêng về phương diện triết lý nhân sinh và nhận thức. Ở huyện Châu thành tỉnh Tây Ninh, xã Phước Hiệp Thịnh có chùa Thái Lâm nơi chính điện thờ cốt Phật, phía sau lại thờ Linh Sơn Thánh Mẫu. Ở tỉnh Sông Bé có nhiều nơi là miếu Bà, lập lên vào thế kỷ XIX và phát triển nhiều nơi khác. Ở vùng Vũng Tàu, tại thị trấn Long Hà, có miếu thờ Bà Thủy (Mẫu Thoải) thu hút khách hành hương đông đảo trong toàn vùng vào mùa lễ hội Bà. Ở tỉnh An Giang, có chùa Tây An nổi tiếng, ngay trong điện thờ Phật, cũng có đặt tượng Cửu Thiên Huyền Nữ, thờ Bà Chúa Ngọc, Chúa Tiên và Cô Hai Hiên. Tại trung tâm thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang, cũng có nhiều miếu thờ Bảy Bà. Ở tỉnh Cần Thơ, tại chùa Nam Nhã thờ Tam Thánh: Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử ở gian chính giữa, hai bên lại thờ Cửu Thiên Huyền Nữ và Quan Thánh. Phía ngoài trước chùa có miếu thờ Thổ Thần và miếu thờ Mẫu. Ở tỉnh Bến Tre, chỉ trong 7 xã An Đức, An Bình Tây, Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh, Tân Xuân, Phước Tuy và Phủ Ngãi của huyện Ba Tri có nhiều miếu thờ Bà trong xã, thôn hay trong gia đình. Tại làng Hằng Thanh, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, có thờ Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Vị Thánh Nương ngay trong chính tẩm. Ở huyện Bình Đại thuộc Bến Tre, mỗi làng đều có một miếu thờ Bà Chúa Xứ và miếu thờ Bà Thiên Hậu. Ở xã Mỹ Thạnh, thị xã Bến Tre, có miếu thờ Cửu Vị Thánh Nương bên cạnh Tiền Hiền, Hậu Hiền. Những tài liệu nghiên cứu khác cho biết nhiều vùng khác cũng nổi tiếng trong việc tôn thờ Mẫu, như ở Tiền Giang tại thôn Mỹ Đông, tổng Lộc Mỹ có miếu thờ Trinh Nữ; tại xã Kim Đông, bên bờ sông Thủ Thừa có miếu thờ Hỏa Tinh Nương Nương, được vua Tự Đức phong làm Thượng Đẳng Thần. Tại Sài Gòn, ít nhất là 30 chùa miếu có thờ Phật và Mẫu. Con số thống kê năm 1985 trong số 264 ngôi miếu chùa trong thành phố Sài Gòn có tới 42 ngôi còn bàn thờ bà Ngũ Hành, bà Linh Sơn, bà Thiên Hậu và Tứ Vị Nương Nương. Tại đình Nhơn Hòa, quận I Sài Gòn, bàn thờ Cửu Thiên Huyền Nữ và Ngũ Hành Nương Nương đặt trong chính điện rất trang trọng. Tại chùa Tây An, Châu Đốc An Giang, bên trong có bàn thờ Phật là nơi thờ Bà Chúa Xứ; hai bên có Chúa Ngọc và Chúa Tiên đứng hầu. Lại có bàn thờ Cửu Thiên Huyền Nữ và bàn thờ Cô Hiên, mà dân chúng quen gọi là "Phật Cô". Chùa Ba Chúc (An Giang) thì bên trong thờ theo kiểu Tiền Phật, hậu Mẫu; bên ngoài chùa thì có miếu thờ Cửu Thiên Huyền Nữ. Trong những trường hợp dựng miếu, dù mang tính chất thờ thánh mẫuriêng biệt, tuy nhiên vẫn diễn ra tính chất hỗn dung, hòa hợp trong vấn đề tín ngưỡng. Chẳng hạn như miếu thờ Bà ở chùa Cao ở thị xã Bến Tre, thời gian qua, bên cạnh bàn thờ bà chúa Xứ (núi Sam) vẫn còn trần thiết thêm bàn thờ Thần Tiền Hiền và Thần Hậu Hiền nữa. Theo những nhà nghiên cứu phong tục thì việc hỗn dung này có hai ý nghĩa : (a) Có thể thỏa mãn được nhu cầu tâm linh của mọi tầng lớp người. (b) Trong trường hợp việc thờ vị Thần Thánh này không được cúng tế đầy đủ thì việc thờ Thần Thánh kia sẽ lôi cuốn thêm vào. Ngoài ra, việc tập trung thờ cúng tại một địa điểm thì tính chất hội tụ vẫn cao hơn. Hai trung tâm thờ Mẫu nổi tiếng nhất của miền Nam là đền thờ Bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang và điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen, Tây Ninh. Tại những vùng có nhiều người Hoa cư trú, như tại Chợ Lớn, Ðồng Nai, Kiên Giang, Cà Mâu, Cần Thơ, Sóc Trăng... trong nhiều đình miếu thờ Thần, thường có bàn thờ bà Thiên Hậu; lại có thêm Tứ Vị Nương Nương. Chẳng hạn như Thất Phủ Miếu của người Hoa tại số 14 đường Nguyễn Chí Thanh, thị xã Vĩnh Long, trong chính điện thì thờ Quan Công; bên phải thì thờ bà Thiên Hậu, bà mẹ Thai Sinh và Tứ Vị Nương nương bên trái. Tất cả đều được trang hoàng lộng lẫy. Cùng với những ngôi đình miếu, các ngôi chùa cũng là những không gian có thờ Thánh Mẫu. “Gia Định Thành Thông Chí” của Trịnh Hoài Đức ghi lại : Những lớp người này đã tin vào linh ứng của đức Quan Âm, mà cũng tin vào đồng bóng, kính trọng những nữ thần như Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, quen gọi người phu nhân tôn quý là "Bà", Bà Hỏa Tinh, Bà Thủy Tinh, cô Hồng, cô Hạnh... Trong Đại Nam Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn khi chép về việc xây dựng vùng đất Hà Tiên cũng đã viết : Ở châu Hòn Khoai thuộc huyện Long Xuyên, có thờ Thiên Hậu Linh Thần. Ý nghĩa và tổ chức Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam vốn có từ lâu đời và mang nhiều dạng thức từng thời kỳ và từng vùng khác nhau. Chẳng hạn như trong thời kỳ thành Luy Lâu xây dựng đã có nền tảng tín ngưỡng bà mẹ Man Nương, đồng thời hiện tượng thờ Tứ Pháp : Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Thờ Mẫu đã phát triển từ việc thờ phụng tại cung đình cho đến tín ngưỡng dân gian. Khi những tôn giáo đã không còn đủ sức thu hút và niềm tin cứu đời, thì Thánh Mẫu xuất hiện; việc thờ bà Chúa Liễu Hạnh (từ 1557) đã đưa đến hoàn chỉnh triết lý tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam : đó là việc thờ Tam Tòa, Tứ Phủ. Dưới thời phong kiến nhà Lê, tín ngưỡng này đã lan tỏa nhiều vùng trên đất Bắc; cho đến thời Nguyễn, việc thờ Mẫu tại miền Trung và miền Nam lại được tiếp thu thêm tín ngưỡng thờ "Mẹ của Xứ Sở" của người Chăm Pa, Thiên Y A Na, để vào thời vua Khải Định (1916 -1925) tín ngưỡng thờ Mẫu được tôn thành Thiên Tiên Thánh Mẫu (bà mẹ Trời, Tiên, Thánh), việc thờ cúng điển hình nhất là tại điện Hòn Chén ở Ngọc Trản. Chùa Nam Nhã tỉnh Cần Thơ thì gian chính giữa thờ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, đức Khổng Tử và đức Lão Tử (Tam giáo đồng nguyên) gian bên phải thì thờ đức Quan Thánh (Quan Công) có thêm Lưu Bị và Trương Phi; gian bên trái thì thờ Cửu Thiên Huyền Nữ. Đồng thời ở bên ngoài sân chùa, bên phải thì có miếu thờ Bà Chúa Xứ (núi Sam); bên trái thì có miếu thờ Thổ Địa. Những người từ Thuận Quảng đến khẩn hoang lập ấp, những người Hoa chống Mãn Thanh đến tụ cư ở miền Nam đã kiến tạo những đền thờ Mẫu rất sớm. Khi đạo Mẫu từ miền Bắc được du nhập vào miền Nam theo nhiều phương thức khác nhau thì những gì đã tiếp thu lại được tiếp thu thêm những tín ngưỡng của người Chăm Pa, người Khmer, người Hoa, đã hỗn dung lại, để trở thành tín ngưỡng thờ Mẫu của mình. Khi được phát triển trên một vùng đất mới ở Nam Phần trong khung cảnh thiên nhiên khác biệt, thờ Mẫu đã không còn khuôn mẫu Tam Tòa, Tứ Phủ, tôn ông, thờ bà như ở miền Bắc hay ở miền Trung. Con người sinh sống ở đây trong vùng đồng bằng, xa dần rừng núi, cho nên Nhạc Phủ (Mẫu Thượng Ngàn vùng rừng núi) đã mờ nhạt đi nhiều. Thiên Phủ, thì do triết lý âm dương nổi trôi, cho nên đã chuyển thành thờ Cửu Thiên Huyền Nữ. Địa phủ, Thủy phủ được tôn thờ, do đó quyền năng cai quản đất đai thuộc về các bà Chúa Xứ, Chúa Hòn, Chúa Động, kể cả bà Mẹ xứ sở người Chăm Pa trở thành bà Chúa Ngọc, bà Hồng, cô Hồng. Bà Rédeng của người Khmer thờ phụng cũng được hòa chung vào. Về ý nghĩa thiêng liêng tôn thờ, là tiếp tục tôn thờ triết lý sáng tạo âm dương ngũ hành, cho nên có Ngũ Hành Nương Nương, Bà Thủy, bà Hỏa. Vế ý thức nhớ lại nguồn ở việc thờ Bà Chúa Tiên (Liễu Hạnh), ở bà Thiên Hậu (Tứ Vị Nương Nương), bà mẹ Thai Sinh (ở người Hoa). Thành thử ý niệm thiêng liêng về triết lý thờ Mẫu ở Nam Phần Việt Nam, cũng như trong tín ngưỡng thờ thần, đã được sự hỗn dung từ nhiều nguồn, nhiều phía. Như thế, vừa giữ được tính chất truyền thống trong tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu, lại vừa có tinh thần sáng tạo nữa. Việc tổ chức nơi thờ cúng của hai miền Nam và Bắc cũng không giống nhau. Nếu ở Bắc Phần Việt Nam, thờ Mẫu thường được tổ chức ở những phủ, những đền cũng như những đạo quán và thông thường là chiếm một phần trong các chùa chiền, thì ở miền Nam, trước tiên thường thấy phổ biến Mẫu ngự ở các đình làng. Việc thờ này thường chung với các thần ở trong chính tẩm hay có miếu thờ riêng ở sân đình làng. Thông thường, để thể hiện biểu tượng thiêng liêng về Thánh Mẫu bằng cách viết chữ Hán trên bài vị : Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành Nương Nương, Chúa Tiên, Chúa Ngọc... Trong cách kiến trúc và bài trí điện thờ Mẫu, mỗi vùng có những dạng khác nhau. Thông thường, những điện thờ Mẫu nhiều nơi thường được tổ chức "phối tự" (thờ chung) cùng với việc thờ Phật, theo kiểu tiền Phật, hậu thần hay ngược lại. Có nơi lại thờ trong một miễu riêng, hoặc đứng biệt lập, hoặc ở sân chùa. Bà Cửu Thiên : ngồi trên ngai, đội mũ Hoàng Hậu, khoác áo màu đỏ, quần đỏ. Năm bà Ngũ hành ngồi trên đài sen màu hồng phấn, đội mũ hoàng hậu áo nhiều màu. Bà hành Thổ : ngồi trên đài sen ở phía chính giữa khoác áo màu vàng. Bà hành Hỏa : khoác áo màu đỏ, ngồi phía bên trái tầng trên. Bà hành Mộc : khoác áo màu xanh, ngồi phía bên phải tầng trên. Bà hành Kim : khoác áo màu trắng, ngồi phía bên trái tầng dưới. Bà hành Thủy : khoác áo màu tím, ngồi phía bên phải tầng dưới. Miếu bà chúa Xứ là hình ảnh rõ rệt nhất của sự hỗn dung hòa hợp này, mà trong đó ảnh hưởng của tín ngưỡng của người Khmer cũng đã chi phối vào. Trong điện thờ trên cao nhất là pho tượng bà bằng đá sa thạch , mặt tượng trông phúc hậu, môi tô son, lông mày kẻ chỉ, xiêm áo lộng lẫy, đội mũ Hoàng hậu. Tượng Bà được ngăn cách bằng y môn là hai tấm màn đỏ vén lên vừa phải. Trước mặt tượng hai con hạc trắng đứng chầu hai bên. Tiếp xuống phía dưới, bên phải có thờ một tượng Linga (dương vật) bằng đá mà dân chúng thường gọi là "Thờ Cậu"; còn bên trái thì thờ Yoni (âm vật), gọi là "Thờ Cô". Xuống lớp thứ 2 ở giữa là bàn thờ Hội Đồng, liền sát có hai con phượng hoàng chầu hai bên. Tiếp xuống, bên trái là bàn thờ thần Tiên Hiền Khai Khẩn, bên phải là bàn thờ Hậu Hiền Khai Cơ. Nhận định về cách bài trí thờ phượng tại ngôi đền thánh Mẫu nổi tiếng này, ta thấy rõ sự hòa hợp theo nghi thức "Tiền Phật, hậu Mẫu" rất rõ nét trong khoảng không gian thờ phượng thiêng liêng này. Tại đây, Thánh Mẫu (Bà Chúa Xứ) ngự lên trên vị trí cao nhất dùng làm chủ điểm. Người Chân Lạp đã tiếp thu trong văn hóa tâm linh của họ, thì bây giờ được thể hiện tại miến thờ Bà Chúa Xứ. Tại đây thì lại được gọi là "Ban Cậu" và "Ban Cô", để trở thành văn hóa tâm linh thờ Mẫu của người Việt. Tuy nhiên trong sự kết hợp thờ phượng này, lại còn có thêm các vị Tiền Hiền Khai Khẩn đất đai trong làng cùng với Hậu Hiền Khai Cơ Nghiệp, để lưu lại cho con cháu sau này. Tính chất hội tụ này đã tạo ra một không gian thờ phượng tuy phức tạp, nhưng đã hợp với nhu cầu tín ngưỡng của người bình dân. Trí thức thì gọi là hình trạng của "Tam giáo đồng nguyên", nhưng với người bình dân, đã có đủ các vị Thần Thánh để cúng bái, khẩn cầu trong bất cứ trường hợp nào đi chăng nữa.
[Ngô Hưng Đan]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz