Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Phật Học >>  Nhân Quả-Luân Hồi
Vô Minh Qua Nghiệp Quả Nghiệp Báo
Mọi vật đều do quy luật tự nhiên của vũ trụ, nó di dịch biến chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác cứ liên tục như vậy. Phật giáo gọi những trạng thái ấy là vô thường hay duyên khởi.
Trường phái duy thức tông các luận sư của những tông phái đều chấp nhận một định luật là các vật không đứng yên một chỗ mà từ vật này biến dạng qua vật khác. "Hữu chủng chủng tướng chuyển". Một triết gia người nước Hy Lạp tên là Heraclite đã khẳng định rằng: "Chúng ta không thể bước xuống hai lần một dòng nước". Tất cả các hiện tượng giới tuân theo quy luật tuần hoàn, nó không mất đi và cũng không tồn tại mà phật giáo gọi là nhân quả nghiệp báo.Chẳng hạn như mình gieo hạt me thì mọc lên cây me. từ một hạt me mà nó biến dạng theo quy luật tự nhiện trở thành một cây me, rồi từ cây me ấy ra hoa kết trái. Trong trái me có hạt me. Chứng tỏ rằng nó không mất đi mà từ trạng thái này chuyển qua trạng thái khác. cứ xoay vòng tuần hoàn như vậy và cứ như vậy. Con người hiện hữu và tồn tại ở đời, nói chung là đầy đủ nhân duyên hoà hợp khi đó mới thành. Nhân duyên này do nhiều yếu tố như: Nghiệp, tứ đại, tinh huyết cha mẹ. Có rất nhiều yếu tố để con người có mặt rồi cũng chết đi khi mà các pháp không còn duyên hoà hợp nữa. Tiếp theo là tùy vào duyên nghiệp mà hình thành thân thể mới. Thế là sự chết bắt đầu cho sự sống, con người cứ luân hồi trong sáu cõi( Thiên, nhân, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, xúc sanh) theo cảm thọ nghiệp của mình. Nghiệp này gồm có nghiệp thiện và nghiệp ác. Con người sống trên đời có nhiều thành phần khác nhau, nhưng chỉ thấy rõ có hai hạng người. Một là giàu có hưởng phước ở đời. Hai là bần hàn cơ cực không được hưởng phước ở đời. Sự hưởng phước còn phải tuỳ thuộc vào duyên nghiệp của họ. Duyên nghiệp này nó chứa đầy đủ nhân quả và nghiệp báo cho nên nó có sự luân hồi qua lại.Người đời thường bị vô minh chi phối nên không thấy nhân quả và nghiệp của mình. Vì vậy hay làm những chuyện không nên làm trái với lẽ phải, trợ duyện cho ma đạo. Nhân quả và nghiệp báo thường duyên với nhau để thành một pháp thiện hoặc ác ở đời. Việc làm của con người phần nhiều là không thấy nhân quả nên thuận đâu làm đó. Tức là gặp việc thiện thì làm mà gặp việc không tốt cũng làm do vô minh chi phối. Từ việc làm có tác ý này chính là nhân, khi việc làm xong chính là quả. "Bị vô minh che lấp, bị ái kết trói buột nhưng đối với tác giả vốn xưa kia chẳng khác chẳng một. Trong kinh vô thỉ nói: chúng sanh vì vô minh che lấp, ái ràng buột nên qua lại trong sinh tử vô thỉ, chịu các sự khổ vui. Người lãnh thọ hôm nay với người tạo nghiệp trước kia chẳng một cũng chẳng khác. Nếu một là như người tạo tội, phải chịu làm thân trâu, thời người không làm trâu, trâu không làm người (vì người chết trước trâu mới sinh sau, trâu chết trước người mới sinh sau, trâu làm ra người, cho nên không phải một). Nếu khác thời mất hết nghiệp quả báo, tất cả đều đoạn diệt. Thế nên người chịu quả báo với người tạo nghiệp trước kia chẳng một cũng chẳng khác?" (1). Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả. Nguyên nhân này bắt nguồn từ hành động có tác ý, kết quả này là do hành động tác ý đó. Trong cõi Ta Bà này là một thế giới tương quan với nhau nếu nó không tương quan thì nó không hình thành một thế giới muôn màu muôn vẻ như bây giờ. Ví như có một cộng đồng xã hội phải có nhiều người chung sống với nhau. Phải sống với nhau bằng tình thương, đùm bọc nhau, gắn bó nhau keo sơn. Đây là nhân tốt để hình thành cộng đồng tốt đẹp, sự thành tựu này chính là quả. Nếu như mọi người sống không hoà hợp, khiêu chiến bằng ngôn ngữ, hành động bạo lực có ý bất thiện (nhân) dẫn đến vũ lực chiến tranh, xã hội xảy ra phức tạp đảo lộn (quả). Một xã hội luôn tồn tại thiện và ác, nếu gieo nhân thiện thì gặp quả thiện, gieo nhân bất thiện thì gặp quả xấu. Nhân quả hiện hữu thiện hoặc ác là tuỳ thuộc vào hành động có tác ý con người. Thiện là con đường của bậc thiện nhân đi, ác là chỉ ma đạo tà kiến vô minh. Trong kinh Pháp Hoa Đức Phật dạy mỗi chúng sanh có Phật tánh. Nhưng Phật tánh của con người bị vô minh che lấp. Cho nên chưa nhận chân được các pháp vận hành để quan sát quán chiếu rõ ràng. Bởi vậy mỗi hành động của con người thường thiếu suy nghĩ chín chắn để rồi rơi vào lầm lỗi. Vì vậy mà khi hối hận cũng đã muộn, từ nhân lầm lỗi này sẽ đưa đến khổ đau. Điều này con người gieo nhân gì thì gặp quả nấy, gieo nhân thiện thì gặp quả thiện, gieo nhân xấu thì gặp quả bất lương. Nhưng có những việc chúng ta cần phải suy nghĩ kỷ hơn. Sống ở đời thường thấy rằng, có người làm việc thiện sống hiền từ lại khổ cực cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Lại có người làm những việc bất thiện thế mà họ vẫn sung túc, cuộc sống sa sỉ, phung phí. Nhân quả phải trải qua nhiều yếu tố hoà hợp đủ duyên mới thành. Ví như hạt lúa từ khi gieo xuống đất để nó nảy mầm cho được cũng có đầy đủ nhân duyên kết hợp lại mà có. Hạt lúa xuống đất thì phải có nước, độ ấm thích nghi với môi trường. sẽ mọc lên cây lúa rồi ra hoa kết hạt, cứ như vậy từ quả đến nhân, từ nhân đến quả xoay tròn liên tục. Con người cũng không khác. Trong kinh viết rằng, con người chết đi sống lại rất nhiều lần bởi vì nước mắt của người thân khóc nhiều như nước bốn bể. Chứng tỏ rằng con người luân hồi từ vô thỉ kiếp đến nay không thể kể xiết. Chính khi chịu sư luân hồi này thì nó đã chứa nhân quả và nghiệp ngấm ngầm ở trong. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyên, phẩm Quang Mục cứu mẹ kể lại, có vị La Hán đi giáo hoá gặp nữ nhân tên là Quang Mục, nàng ấy cúng phẩm vật đến vị La Hán. Khi vị La Hán dùng xong, nữ nhân ấy thưa với vị La Hán rằng, ngài cho biết mẹ con thác sanh về chỗ nào? Vị La Hán đó khuyên phải niệm Đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Nữ nhân vâng lời rồi niệm Phật, nhờ hào quang và năng lực của Đức Phật mà Quang Mục biết được mẹ mình đang chịu khổ đau như thế nào. " Nghiệp duyên trong vòng sanh tử phải tự lãnh lấy quả báo, tôi là mẹ của ngươi, lâu nay ở chốn tối tăm, từ khi vĩnh biệt ngươi, tôi phải đoạ vào địa ngục, nhờ phước lực của người, nên nay được thọ sanh làm kẻ hạ tiện, lại thêm số mạng ngắn ngủi, năm mười ba tuổi đây sẽ bị đoạ vào địa ngục nữa, ngươi có phương thế gì làm cho tôi thoát khỏi khổ sở". (2)Sự thọ quả báo ấy là khi còn sống người ấy đã gieo nhân bất thiện, làm những việc không phù hợp với đạo đức, không làm các việc lành để tạo phước đức. Chúng ta biết rằng chỉ có đức độ của chúng tăng mới cứu khổ người đoạ đày ở địa ngục. Tục ngữ có câu: "Lấy oán báo oán, oán sẽ chồng chất. lấy đức báo oán, oán sẽ tiêu tan" . Nhân ác ấy là do hai nghiệp giết hại và chê bai mắng nhiếc mà thọ quả báo khổ, nếu không nhờ phước đức cứu nạn , thời cứ theo tội nghiệp đó vẫn còn đoạ đày. Con người khi sống làm các việc ác (nhân), khi chết sẽ đoạ địa ngục (quả). Nếu như làm việc thiện tạo phước đức cho mình và hồi hướng cho người đã chết, thì người đã chết có thể thoát cảnh khổ ở địa ngục, nếu người còn sống thì phước thọ tăng thêm. Ví như: Người mẹ của tôn giả Mục Kiền Liên khi còn sống đã gây không biết bao nhiêu tội ác, làm những việc bất thiện (nhân), khi chết đoạ vào địa ngục đói khổ. Tôn giả Mục Kiền Liên thấy vậy, liền đem cơm đến dâng cho mẹ, bà khởi lòng tham tay trái bưng cơm tay phải bốc ăn, nhưng than ôi! Cơm chưa vào miệng cơm đã hoá ra than lửa đỏ hồng làm sao ăn được (quả). Đức Thế Tôn từ bi chỉ cách cho tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ là phải sắm sửa phẩm vật để cúng dường chúng tăng tạo phước đức (nhân). Việc làm hết sức ý nghĩa do nhân duyên này mà sanh phước đức, tôn giả hồi hướng cho người mẹ mình, nhờ phước đức này mà mẹ của tôn giả Mục Kiền Liên thoát cảnh địa ngục đói khát khổ sở và sau đó được sanh thiên để hưởng phước (quả). Nhân quả là sự tương quan hỗ trợ cho nhau để tồn tại, nhân thế nào thì quả thế ấy. Mình gieo xuống đất một hạt xoài thì mọc lên cây xoài. Con người cung không khác, gieo phước thì gặp quả an lạc, mình có học có tu hành mới trở thành người hoàn hảo cứ theo nhân hoàn hảo đó dần dần trở thành bậc thánh hiền ở đời. Ngày xưa Bồ-Tát Tất Đạt Đa Ngài đã gieo công đức vô kể trở thành Người hiền để cho mọi người noi theo. Ví như, làm những việc phải làm, nói những điều cần nói, tìm những việc cần tìm, Ngài đã tìm ra chân lý giải thoát khổ đau cho Ngài và nhân loaị. Đây là kết uả mà bấy lâu nay Ngài luôn thao thức. Ngài là bậc thầy của nhân thiên. Chúng ta biết rằng đã là thầy thì nói và làm những điều tốt đẹp đến nhân loại. Thế mà Ngài nói, Ta chưa nói một lời. Còn con người như chúng ta thì sao? Mới làm được một vài việc, mới tu học chút ít lại cho là đủ rồi sinh khởi tâm tự kiêu, ngã mạng chê người này khinh người khác tự khen mình. Tri giác con người lúc mờ lúc tỏ, lúc mờ thì suy nghĩ và làm việc không đúng với chân lý, suy nghĩ chưa đến đâu, hành động chưa dứt khoát. Trong kinh thường dạy: "Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị, yếu tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị". Nghĩa là muốn biết nhân đời trước, nay xem quả hiện tại, nếu biết quả về sau ra sao, nay xét việc làm hiện tại. Nhân quả luôn tồn tại ở việc làm của con người có tác ý. Sống trong đời người ta trồng cây gì thì ăn quả đó, làm thiện mục đích là vun bồi phước đức để sau này hưởng quả báo tốt đẹp, sống hạnh phúc hơn. Chúng sanh có những nhân quả nghiệp báo sai khác. Trong kinh Lương Hoang Sám trình bày: "Người đa dâm sau khi chết sẽ bị đầu thai làm súc vật như chim sẻ, bồ câu, uyên ương. người uống rượu say sưa, kiếp sau làm người ngu si, kém hiểu biết. Kiếp này quá ngu si sau khi thác sanh thì làm heo, dê, . đời này hay trêu ghẹo sau khi chết đầu thai lại làm con khỉ, con vượn, . một số nhân quả như vậy cho thấy cuộc đời luôn có công lý không thiên vị về ai cả. Người nào làm việc gì thì thọ nhận quả tương đương. Nhân quả là một hiện tượng có thật, bởi từ nhân đưa đến quả có hàm chứa nghiệp ở trong đó. Vì nghiệp là thai tạng, nghiệp là dẫn dắt đi đầu thai. Chúng sanh hành động bất thiện sẽ có quả khổ sanh khởi trong cuộc sống, chịu sự luân hồi trong lục đạo. Chủ trương của ngoại đạo là "Người này àm nghiệp như thế nào, như thế nào, thì người ấy cảm thọ quả như vậy, như vậy". Nhưng quan điểm đó Đức Phật thì khác, Đức Thế Tôn dạy hàng đệ tử là: "Người này làm nghiêp cảm thọ như thế nào, như thế nào, thì người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy". Vậy là theo quan điểm của Đức Phật thì người nào làm việc gì có tác ý, có cảm thọ khi đó mới nhận quả khổ hoặc vui. Ví như: khi mình cố ý sát sanh thì khi đó mới mang nghiệp sát sanh. Con người không thấy được nhân quả đang vận hành theo hành động có tác ý của mình. Bất cứ ai trước khi làm việc gì cũng có định hướng suy nghĩ làm hay không, có những lúc khỏi suy nghĩ tác ý là làm luôn. Cứ như thế phần nhiều hay làm những việc không tốt do lòng tham lam, thành ra nhân không tốt thì quả chẳng tốt đẹp gì.Nhân quả cũng hàm chứa nghiệp, nó là động cơ hình thành khổ. Chính nó mà làm cho chúng sanh thay hình đổi dạng, bỏ thân này rồi hình thành thân khác. Hình như chưa có thân nào hình thành mà không có nghiệp dẫn dắt. Nghiệp: Tiếng Pali gọi là Kamma, tiếng Sanskrit gọi là Karma nghĩa là hành động có tác ý của tam nghiệp (than, khẩu, ý). Hành động không tác ý hầu như không có nghiệp. Ở đời chúng ta là con người mỗi khi làm việc gì cũng khởi ý cả. Đức Phật dạy: "Này các các Tỳ-kheo, Như Lai nói rằng tác ý là nghiệp" (3) Con người sống trong đời này còn nằm trong vòng đối đãi, chấp ngã, phiên não, . tất cả đều bị vô minh chi phối tạo thành nghiệp. Nghiệp này có hai loại, nghiệp thiện và nghiệp bất thiện. thiện cũng từ con người tác ý tạo tác mà thành và bất thiện cũng từ hành động con người tác ý mà có. Ý tạo tác của con người là chủ nhân của nghiệp. Chỉ có việc làm của Chư Phật và Chư Đại Bồ Tát không có nghiệp. Quý Ngài chỉ phương tiện mà làm chứ không tính hơn thua lỗ lời như con người. Trong kinh viết: "Phương tiện từ bi lợi tế giả bất phạm". Chư Phật và chư đại Bồ Tát đã liễu tri các pháp là bậc giác ngộ giải thoát, đã bỏ gánh nặng ở đời xuống tức là ly ái dục. không còn vướng mắc tình cảm như con người nữa, không còn bị vô minh chi phối. Cho nên khi quý Ngài hành động thì chỉ dùng phương tiện không hại ai và chỉ đem lại an lạc hạnh phúc giải thoát cho muôn loài. Kinh Pháp Hoa viết: "Ta chỉ bày phương tiện nói các đạo dứt khổ, chỉ cho Niết Bàn, Ta dầu nói Niết Bàn, cũng chẳng phải thiệt diệt, các pháp từ bổn lai tướng thường tự vắng lặng, phật tử hành đạo rồi, đời sau đặng thành Phật".(4) Việc làm của Chư Phật và Chư Bồ Tát mục đích là đưa chúng sanh từ mê đến ngộ, đoạn trừ các lậu hoặc dẹp bỏ phiền não, dứt trừ vô minh để thấy được bản tánh sáng suốt đó là Phật tánh. Trong câu châm ngôn của thiền Phật Giáo là "Minh tâm kiến tánh". Trạng thái con người nghĩ việc gì đó lâu dần cũng trở thành nghiệp thiện hoăc bất thiện. Nếu là thiện thì luôn sanh tâm bình đẳng hoà đồng vui vẻ với mọi người không phân biệt sang hèn thì đây được xem là nhân và được mọi người yêu thương đó là kết quả sự gắn bó giữa mình với mọi người làm cho đời tươi sáng thêm. Mỗi người là một cành hoa, giữa xã hội có rất nhiều cành hoa chắc chắn rằng xã hội rất là đẹp. khi mà con người luôn xây dựng nghiệp thiện, nó sẽ giúp con người khai mở Phật tánh ở trong tâm thức dần dần cho đến khi liễu tri được các nhân quả nghiệp của chính mình. Trong duy thức học các nhà hoc giả cho ALạiYa là bộ phận huân tập các pháp. Ví như khi sống hành động tạo tác như thế nào thì bộ phận ALạiYa ghi lại và sự ghi lại này chính là nghiệp được huân tập. Chúng sanh phần nhiều không hiểu thế nào là nhân quả, nghiệp báo cho nên làm những việc có lợi trước mắt mà không nghĩ hậu quả về sau hay khi vẫn biết việc đó là không tốt những vẫn làm vì do lòng tham nên bị vô minh chi phối. ví như mình buôn ma tuý (nhân) có lợi trước mắt nhưng đằng sau đó làm hại đến không biết bao nhiêu người (nghiệp) và bị luật pháp trừng trị (quả). Đức Phật dạy: "Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". (5). Con người hiện hữu tức là có nghiệp, hơn nữa nghiệp luôn tồn tại trong ta như bóng theo hình. Sinh mạng của chúng sanh là do nghiệp duyên khởi mà sanh ra, sống trong cảnh vô thường, biến dịch, thân thể biến đổi, ý niệm buồn vui khởi lên. "Ý dẫn đầu các pháp Ý làm chủ, ý tạo tác. Nếu với ý ô nhiễm nói năng hay hành động khổ não bước theo sau như chiếc xe theo chân con vật". (kinh pháp cú câu 1). Với ý dẫn đầu mà tà kiến thì khiến cho thân khẩu ý con người thường lạc vào sai lầm. Hành động có tác ý bất chánh sẽ tạo nghiệp dữ gọi là ô nhiễm, khổ não sẽ nối tiếp ý đó mà khởi lên trong tâm thức con người. Đức Phật biết được sự khổ trầm kha của con người do nghiệp chi phối. Cho nên Đức Thế Tôn chỉ cho con người liễu tri nghiệp ấy và để đoạn trừ nghiệp. Nghiệp là do huân tập các nhân duyên hiện hữu do tác ý hành động của chúng sanh mà thành. Nghiệp cũng từ duyên khởi mà thành, đã là duyên khởi thì nó không thật có. Con người cần phải làm chủ tâm ý mình đừng để tạo nghiệp nữa, nếu có tạo thì tác ý thiện. Bởi vì nghiệp thiện thì trợ duyên ho con người hành phúc an lạc. Đức Phật dạy: "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi". Mỗi người đều có tri giác sáng suốt cần phải thắp sáng lên, muốn thắp sáng thì lắng đọng tâm tư trong chánh niệm tĩnh giác thì dễ thấy các pháp đúng sai. Làm việc thiện, suy nghĩ thiện, nói lời hoà nhã thanh tao thì tam nghiệp thanh tịnh trong suốt. Đây là nhân tốt và nhân này luôn luôn duy trì để trợ duyên cho người muốn có niềm an lạc giải thoát. "Ý làm chủ, ý tạo tác nếu với ý thanh tịnh nói năng hay hành động an lạc bước theo sau như bóng không rời hình". (kinh pháp cú câu 2). Nghiệp là năng lực trang bị tất cả nẻo đường luân hồi trong lục đạo (trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) chịu đủ mọi sự khổ khác nhau. Sống trên đời vẫn có người không chấp nhận nghiệp, vì không thấy nghiệp vận hành trong cuộc sống họ cứ thấy rằng, có người làm việc bất thiện mà lại giáu có, chơi bời vô độ. Có người hiền lành mà lại nghèo rớt mồng tơi, suốt đời quần quật thế mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Kết quả đó là do nghiệp của mỗi người phải chịu lấy. Kinh Thủy Sám viết: " Bởi lẽ trong kinh nói nghiệp có ba: Một là hiện báo, hai là sanh báo, ba là hậu báo. Hiện báo nghĩa là thiện ác đời này làm ra thì chính thân này hưởng chịu kết quả. Sinh báo nghĩa là có nghiệp thiện ác đời này làm ra, tiếp ngay đời sau hưởng chịu kết quả. Hậu báo nghĩa là có nghiệp thiện ác đã được làm ra từ nhiều đời kiếp trong thì quá khứ. Nhưng đến đời này hưởng chịu kết quả. Hay nhiều đời kiếp trong thì vị lai mới hưởng mới chịu". (6) Kinh đã nói rất rõ về nghiệp của con người, sống trên đời có người làm việc bất thiện thế mà họ vẫn sung túc, bởi vì đời trước họ đã làm phước tạo nhiều công đức, măc dầu kiếp này làm những việc bất lương, nhưng quả báo đời trước lướt qua việc ác hôm nay thì họ vẫn hưởng phước còn lại, khi người đó hưởng hết phước rồi thì vẫn đoạ vào cảnh khổ đau như thường. Đức Phật dạy con người tu đạt đến cảnh trời phi phi tưởng xứ, hưởng phước nhiều như thế khi hết phước thì cũng đoạ vào cảnh khổ luân hồi trong lục đạo. Lại có người ăn ở hiền lành nhưng mà họ vẫn chịu cảnh màn trời chiếu đất. Lý do là kiếp trước phước mỏng tội dày, khi chết họ hối hận nguyện kiếp sau làm người lương thiện. Ngay kiếp hiện tại mới gieo phước đức vì ít quá chưa có quả thiện chỉ mới đơm hoa thì làm sao bù đắp được. Lại có người thắt mắc tại sao người hiền hay bị đoản mạng vậy? Còn người ác thì lại sống lâu, điều này trong kinh Địa Tạng kể lại có một đứa trẻ sinh vào nhà Quang Mục và nói là do hai nghiệp giết hại và chê bai sẽ bị hậu quả thích đáng. "Nghiệp duyên trong vòng sanh tử phải tự lãnh lấy quả báo. Tôi là mẹ của người, lâu này ở chốn tối tăm từ khi vĩnh biệt người, tôi phải đoạ vào địa ngục nhờ phước lực của người, nên nay được thọ sanh làm kẻ hạ tiện, lại thêm số mạng ngắn ngủi, năm mười ba tuổi đây sẽ bị đoạ vào địa ngục nữa". (7) Đoạn kinh trên trình bày cho con người biết được vì sao người hiền trong kiếp nhân sinh này mà bị đoản mạng khổ sở. Người hiền mà bị đoản mạng là kiếp này họ mới hiền, còn kiếp trước thì hung dữ. Kiếp này sống là để trả nợ cho kiếp trước và tạo phước cho về sau, nếu người ấy biết tu sửa tính hư tật xấu thì thành tốt. Thế là cuộc sống con người cứ vay trả rồi trả vay mà họ không biết, luân hồi không dứt gọi là vô minh qua nhân quả nghiệp báo. Câu Xá Luận mười một viết rằng: "Nói nghiệp lực của loài hữu tình làm duyên tăng thượng, đầu tiên ở dưới đất nương nơi hư không mà có phong luân nổi lên với một phạm vi vô cùng rộng rãi và dày mười sáu ức du thiên na (do tuần, có ba cở: hai mươi dặm, bốn mươi dặm, tám mươi dặm). Thể chất rất rắn chắc, kín chặt và cũng do nghiệp lực của chúng sanh làm duyên tăng thượng, có đám mây nổi lên và đổ mưa xuống trên phong luân, hạt mưa lớn như trục xe, lại thành thủy luân sâu tới mười ức hai vạn dư thiên na. lại cũng do nghiệp lực của chúng sanh làm duyên tăng thượng, một luồn gió khác nỗi lên kích động dồn ép thủy luân đông lại thành lớp cứng chắc trên đó gọi là kim luân, nghĩa là phần rắn cứng, tức là quả đất". (8) Sự thành tựu nghiệp mỗi hành động, mỗi tác ý đều có đầy đủ nhân duyên của nó khi đó mới thành nghiệp. Ví như thành nghiệp sát thì phải đầy đủ nhân duyên của nó phải có ý muốn giết, đối tượng để giết là loài hữu tình phải giết. Mình dùng sức để giết và giết chết.Nghiệp dẫn dắt con người luân hồi, nhưng không hẳn là vậy, con người có khả năng chuyển nghiệp được. Nếu như bắt gặp chân lý và những lời dạy của Đức Phật. Hành giả nương theo pháp của Phật dạy mà tu hành thì chắc chắn sẽ chuyển nghiệp. ví như: tính của con người thường nóng nãy hấp tấp là việc khó thành. Đức Phật chế pháp nhẫn nhục đệ nhất đạo. Làm việc gì cũng phải từ từ và chờ đợi có tính kiên nhẫn mới dễ thành hơn. Pháp Phật dạy mang tính giải thoát, ai thật tu thật học theo pháp môn mà Đức Phật chỉ dạy thì dứt nghiệp. Trong kinh Pháp Hoa đã trình bày là có vị trưởng giả thấy đàn con đang chơi trong nhà lửa, nhà lửa này đang bốc cháy. Vị trưởng giả từ bi thương các con, sợ các con bị cháy lây cho nên phương tiện mà dụ các người con ra khỏi nhà lửa đó. " Đây này là những món ít có khó đặng mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy sau chắc buồn ăn năn. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa nên mau ra đây, tuỳ ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con".(9). Chúng sanh đang sống trong lửu cháy của ái dục, chấp thủ, tà kiến, vô minh. Đức Phật từ bi chỉ bày những pháp môn hợp với căn cơ của chúng sanh để tu tập giải thoát ra khỏi khổ đau. Xe dê, xe hươu, xe trâu . những xe này ví như những pháp môn tu tập hợp với căn cơ của mỗi người. Nếu ai ra khỏi nhà lửa đó tức là ly sanh tử, mà ly sanh tử thì không còn bị nghiệp chi phối nữa thì người đó dứt nghệp. Nghiệp là không hình tướng không sắc màu, cho nên chúng sanh làm sao thấy được. Nghiệp rất đa dạng nó nương tác ý mà thành. Trong kinh Thủy Sám kể rất nhiều nghiệp khác nhau. Ví như: "Khinh chê lời Phật: nghiệp phá Đại Thừa; Quấy rối Tam Bảo: nghiệp phá chánh pháp; Không tin tội phước: tạo mười ác nghiệp; Lầm chân phản chánh: nghiệp của ngu si; Bất hiếu cha mẹ: nghiệp của phản bội; Khinh mạng sư trưởng: nghiệp của vô lễ; Không thật với bạn: nghiệp của bất nghĩa,.".(10) Trên đây chỉ nêu một vài nghiệp khác nhau còn trong kinh Phật dạy về nghiệp rất nhiều loại khác nhau tùy mỗi chúng sanh tạo tác. Chúng ta thấy rằng chân lý ở đời luôn tương quan tương duyên với nhau. Trong kiếp nhân sinh con người đều do nghiệp lực mà có, nhưng con người phần nhiều không hiểu nghiệp là gì? Và vì sao mà có nghiệp. Cho nên trong cuộc sống thường làm khổ lẫn nhau. Mình làm khổ người khác chính là làm khổ mình " Gậy ông đập lưng ông". Khởi phiền não thì không thấy chân lý tu tập, chính nguyên nhân này là nghiệp ngu si, chịu sự luân hồi trong sáu cõi. Vậy mình đã biết nghiệp của phiền não mà đưa đến kết quả như thế liệu mình có để cho nó khơỉ lên hay không. Nỗi sân hận mà gây chia rẽ giữa mình với người hoặc giữa người với người tạo mối chia lìa khổ đau sinh khởi, xã hội phức tạp đây là nghiệp của vô minh. Nghiệp có hai loại, nghiệp thiện và nghiệp ác. Nghiệp thiện thì gọi là "bạch nghiệp", nghiệp ác thì gọi là "hắc nghiệp". Biệt nghiệp là chỉ cho mỗi người, cộng nghiệp là chỉ cho nhiều người. Trong kinh Thủy Sám nói nghiệp có rất nhiều, ví như cát Sông Hằng bởi vậy không thể kể hết được. Chúng ta phải hiểu rằng nghiệp là sự chướng ngại cho sự giải thoát. Còn nghiệp diễn biến thì không thể thành Phật. Sự chi phối của vô minh làm cho con người tạo tác nhân khổ đau kết quả luân hồi. Cá cắn câu mà không biết tai hoạ, con tằm làm kén tự quấn mình lại, như con liều mình bay vào ngọn lửa thiêu cháy thân mình mà không hay biết. Con người cũng không khác, làm các việc ác, đắm say dục vọng, chấp ngã, cho nên chịu sự khổ trong luân hồi mãi mãi không dừng. Nghiệp vốn có từ vô thỉ lai, con người có mặt trên cõi đời này do hành động suy nghĩ khởi lòng tham, nhận lầm các pháp do tuệ giác mê mờ, thiếu chánh kiến. Cho nên không hiểu biết chân lý mà hành động một cách mù quán nghiệp phát xuất từ đây là hình thành. Nghiệp là pháp huân tập do ý thức con người sanh khởi. Một khi hành động con người không còn bị ô nhiễm, thì việc làm của mình rõ ràng sáng suốt khi đó nghiệp vắng lặng không chi phối được mình. Nhưng khổ nổi con người đại đa số không hiểu rõ nguyên nhân của nhân quả nghiệp báo Đức Phật đã dạy, cho nên hành động của con người theo bản năng của tam độc (thân khẩu ý) rồi tạo nghiệp. Vì lý do đó mà gọi rằng: "vô minh qua nghiệp báo của phật giáo. Trong kinh A Hàm III. Đức Thế Tôn dạy về nghiệp: "Nếu có nghiệp, khi tạo tác đã thành. Ta nói không phải là không thọ nghiệp báo, hoặc hiện tại thọ báo, hoặc đời sau thọ báo . nếu không cố ý tạo tác nghiệp, khi tạo tác nghiệp đã thành. Ta không nói chắc chắn phải thọ báo". Ngài dạy tiếp: "Nếu có ai cố ý tạo tác nghiệp khi tạo tác nghiệp đã thành, Ta không nói chắc chắn phải thọ báo". (11) Qua lời dạy của Đức Thế Tôn giúp con người hiểu biết về nghiệp rõ ràng hơn. việc mình làm có tác ý bất thiện thì mình phải lãnh chịu quả xấu chứ không một ai chịu thay thế cho mình được cả. Nhân quả nghiệp báo có thể xảy ra trong hiện tại hay xảy ra trong tương lai mà thôi, chứ không thể nào tránh khỏi những gì chính mình đã làm có tác ý. Còn mình làm việc có tác ý thiện thì hưởng quả an vui trong hiện tại và trương lai. Nghiệp này khả năng của nó hình thành nhân quả, hay nhân quả có ngấm ngầm nghiệp ở bên trong. Từ nhân đưa đến quả cũng có nhiều yếu tố khác nhau. Nhân quả cũng từ duyên khởi mà hình thành, tất cả pháp không tồn tại nếu đứng một mình. Vậy nhân quả cũng từ duyên khởi mà thành, nếu đã có từ duyên khởi tức là có sanh tức phải có diệt. Nghiệp có sanh thì có diệt. Hành giả nào muốn dứt trừ nhân quả nghiệp báo thì phải đi theo bước chân của Như Lai. Bước chân của Như Lai chính là những bước chân tĩnh giác, chánh niệm kiểm soát mọi ý niệm khởi lên và hành động rõ ràng. "Không làm các việc ác, chỉ làm các việc thiện". " Có trời thì có ta, Tu là cội phúc, tình là giây oan". Nguyễn Du. Cụ Nguyễn Du đã thấm nhuần giáo lý nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật. Cụ mới nói có trời có ta. Trời có thể là nghiệp cũ, ta có thể là nghiệp mới. Trời và Ta này là chỉ cho nghiệp. Nghiệp nó có khả năng dẫn dắt con người vào bể khổ luân hồi. Tu là cội phúc, tình là dây oan. Tu là nhân, cội phúc là quả. Tình là nhân, dây oan là quả. Mỗi con người phải tu, nếu không tu sẽ đi vào con đường sa đoạ. Tu này không có nghĩa vào chùa mới gọi là tu, mà tu ở cụ nguyên du nói là người nào cũng phải tu. Cổ nhân có nói: thứ nhất là tu nhà, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa. Có lẽ tình này là gánh nặng ở đời mà Đức Phật thường cân nhắc cho hàng đệ tử phải tĩnh giác để loại trừ nó, đừng để tình ái làm rối loạn tâm hồn. Tình này có khả năng kết nối giữa con người thương yêu nhau, và con người có thể điên đảo mê muội vì tình. Cho nên con người sẽ bị nguy hại vì lún sâu vào con đường oan nghiệp của dục vọng. Chính nó làm cho con người mai một đạo đức , xã hội ngày càng phức tạp kéo dài một chuổi dây oan. Đức Thế Tôn chỉ dạy cho con người về nguyên nhân hình thành "nhân quả nghiệp báo" để con người liễu tri được nguyên nhân huân tập khổ đau do hành động của con người có tác ý nên các pháp sanh khởi. Hành giả chỉ cần chánh niệm tĩnh giác trong mọi ý niệm khởi lên thì làm chủ được nghiệp. khi làm chủ nghiệp rồi thì dễ dàng dứt nghiệp, đạt đến giải thoát an lạc Niết-bàn. ------------------ Chú thích: 1.Sdd. Trung Luận,tr 191. HT Thích Thiên Siêu. 2.Kinh Địa Tạng, tr56. HT Thích Trí Tịnh. 3,Xây dựng nhân đời sống trên nền nhân quả luân hồi, tr34 HT Thích Thiện Hoa. 4, Kinh Pháp Hoa quyển I, phẩm phương tiện, tr77. HT Thích Trí Nghiêm. 5,Kinh Tăng Chi quyểnII, tr77 HT Thích Minh Châu. 6,Kinh Thủy Sám, tr 118,119, HT Thích Trí Quang. 7 Kinh Địa Tạng, phẩm thứ tư, Quang Mục cứu mẹ, tr56 HT Thích Trí Tịnh. 8, Câu Xá Luân, tr120, HT Thích Thiện Siêu. 9, Kinh Pháp Hoa, phẩm thí dụ, quyển II, tr112,113. HT Thích Trí Tịnh. 10, Kinh Thủy Sám. HT Thích Trí Quang. 11, Kinh Trung A Hàm III, tr760,761. HT Thích Minh Châu.
[Thích Chánh Tịnh]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz