Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Phật Học >>  Phật pháp ứng dụng
Con Đường Chuyển Hóa - Chương V
Ảnh Minh Họa: Con Đường Chuyển Hóa
"Vị khất sĩ ý thức về đối tượng của ý là pháp trần và về những nội kết tạo nên do ý và pháp trần. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh, về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt và về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa."
" Này các vị khất sĩ ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức như thế nào ?
" Trước hết vị ấy quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức về năm hiện tượng ngăn che. Nhưng quán niệm bằng cách nào ?

1- Khi có ái dục, vị khất sĩ ý thức rằng mình có ái dục,. Khi không có ái dục, vị ấy ý thức rằng, mình không có ái dục. Khi một niệm ái dục chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã sinh đang được khử diệt, vị ấy ý thức được sự khử diệt ấy. Khi niệm ái đã được khử diệt và không không còn tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được về điều đó.

2- Khi có sân hận, vị khất sĩ ý thức rằng mình có sân hận. Khi không có sân hận, vị ấy ý thức rằng mình không có sân hận. Khi một niệm chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã sanh khởi đang được khử diễt, vị ấy ý thức được sự khử diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã được khử diệt và không còn có trái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được về điều đó.

3- Khi có mê muội và buồn ngủ, vị khất sĩ ý thức rằng mình có mê muội và buồn ngủ. Khi không có mê muội và buồn ngủ, vị ấy ý thức rằng mình không mê muội và buồn ngủ. Khi mê muội và buồn ngủ chưa phát sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi mê muội và buồn ngủ đã sanh khởi đang được khử diệt, vị ấy ý thức được sự khử diệt ấy. Khui sự mê muội và buồn ngủ đã được khử diệt và không còn có thể tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được về điều đó.

4- Khi có giao động bất an và hối hận, vị khất sĩ ý thức rằng mình có giao động bất an và hối hân. Khi không có giao động bất an và hối hận, vị ấy ý thức rằng mình không có giao động bất an và hối hận. Khi giao động bất nan và hối hận chưa phát sanh mà nay sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi giao động bất an và hối hận đã sanh đang được khử diệt, vị ấy ý thức được sự khử diệt ấy. Khi giao động bất an và hối hận đã được khử diệt và không còn tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được điều đó.

5- Khi có nghi ngờ, vị khất sĩ ý thức rằng mình đang có nghi ngờ. Khi không có nghi ngờ, vị ấy ý thức rằng mình không có nghi ngờ. Khi nghi ngờ chưa sanh khởi mà nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi đó. Khi nghi ngờ đã phát sinh và đang được khử diệt. vị ấy ý thức được sự khử diệt đó. Khi nghi ngờ đã dược khử diệt và không còn tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được điều đó.

" Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức; hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài đối tượng tâm thức ấy; hoặc quán niệm bnên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Vị ấy sống trong sự thường trực quán niệm qúa trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm qúa trình huỷ diệt nơi dối tượng tâm thức, hoặc quán niệm cả qúa trình sinh khởi lẫn qúa trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc vị ấy quán niệm " Có đối tượng tâm thức đây". đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức đó, và như vậy, vị ấy sống một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuyôc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm đối tượng tâm thức nơi tâm thức là như thế đó, thưa qúy vị ". Tiếp đó vị khất sĩ quán niệm về năm nhóm tụ họp ( năm thủ uẩn ) còn nằm ở dưới ảnh hưởng của sư bám víu, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào ?

Vị khất sĩ quán chiếu như sau: " Đây là hình thể vật chất (sắt); đây là sự phát sinh của hình thể vật chất, và đây là sự huỷ diệt của hình thể vật chất. Đây là cảm thọ ( thọ); đây là sự phát sinh của cảm thọ và đây là sự huỷ diêt của cảm thọ. Đây là tri giác ( tưởng); đây là sụ phát sinh của tri giác. Đây là tâm tư ( hành ), đây là sụ phát sinh của tâm tư và là sự huỷ diệt của tâm tư. Đây là nhân thức ( thức ) ; đây là sự phát sinh của nhân thức, và đây là sự huỷ diệt của nhân thức.

Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức; hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài năm nhóm tụ họp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy sống trong sự quán niệm quá trình sinh khởi, hoặc quá trình huỷ diệt, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn qúa trình huỷ diệt của năm nhóm tụ hợp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Hoặc vị ấy quán niệm : " Có năm nhóm tụ hợp đây ", đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của năm nhóm tụ hợp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu, và như vậy, vị ấ an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vuóng bận. Quán niệm về nam nhóm tụ hợp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa qúy vị".

Tiép đến, vị khất sĩ quán niệm về sáu giác quan và sáu loại đối tượng, như đối tương tâm thức nơi dối tượng tâm thức.
Quán niệm như thế nào ?

Vị khất sĩ ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắt và về những nội kết nên do mắt và hình sắt. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt. Vị ấy ý thức về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh và về những nội kết tạo nên do tai và âm thanh. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt. Vị ấy ý thức về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khât sĩ ý thức về mũi và đối của mũi là mùi hương và về những nội kết tạo nên do mũi và mùi hương. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh, về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt, và về những những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm và về những nội kết tạo nên do lưỡi và vị nếm. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh, về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về thân và đối tượng của thân là xúc chạm và về những nội kết tạo nên do thân và xúc chạm. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh, vế những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về đối tượng của ý là pháp trần và về những nội kết tạo nên do ý và pháp trần. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh, về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt và về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

" Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sụ quán niệm về sáu gía quan và sáu loại đối tượng của chúng như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức; hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Vị ấy an trú trong sự quán niệm qúa trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc qúa trình hủy diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc cả qúa trình sinh khởi lẫn qúa trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc vị ấy quán niệm : " Có sáu loại đối tượng của tâm thức đây ", đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Quán niệm về sáu giác quan và sáu loại đối tượng của chúng như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa qúy vị.".

Tiếp đó, vị khất sĩ quán niệm về bảy yếu tố của sự ngộ đạo như đối tượng tam thức nơi dối tượng tâm thức.

Quán niệm như thế nào ?

1- Khi có yếu tố chánh niệm ( niệm ), vị khất sĩ ý thức là mình có chánh niệm. Vị ấy quán chiếu rằng: tâm mình có chánh niệm. Khi không có chánh niệm, vị ấy ý thức là mình không có chánh niệm. Vị ấy có ý thức về chánh niệm chưa phát sanh nay đang phát sanh, về chánh niệm đã phát sanh nay đang thành tựu viên mãn.

2- Khi có yếu tố quán chiếu ( trạch pháp ), vị khất sĩ ý thức là mình đang có sự quán chiếu. Vị ấy quán chiếu rằng : tâm mình đang có sự quán chiếu. Khi không có sự quán chiếu, vị ấy ý thức là mình không có sự quán chiếu. Vị ấy có ý thức về một tác dụng quán chiếu chưa phát sanh nay đang phát sanh, về một tác dụng quán chiếu đã phát sanh nay đang thành tựu viên mãn.

3- Khi có yếu tố tinh chuyên ( tinh tiến ), vị khất sĩ ý thức là mình đang có có sự tinh chuyên, quán chiếu rằng : tâm mình đang tinh chuyên. Khi không có sụ tinh chuyên, vị ấy ý thức là tâm mình không tinh chuyên. Vị ấy có ý thức về một sự tinh chuyên chưa phát sanh nay đang phát sanh, về một sự tinh chuyên đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.

4 - Khi có yếu tố an vui ( hỷ ), vị khất sĩ ý thức là mình đang có an vui, quán chiếu rằng : tâm mình đang an vui. Khi không có an vui, vị ấy ý thức là mình không an vui. Vị ấy ý thức về niềm an vui chưa phát sanh nay đang phát sanh, về niềm an vui đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.

5 - Khi có yếu tố nhẹ nhõm ( khinh an ), vị khất sĩ ý thức là mình có nhẹ nhõm, quán chiếu rằng : tâm mình đang nhẹ nhõm. Khi không nhẹ nhõm, vị ấy ý thức là mình không nhẹ nhõm. Vị ấy ý thức về sự nhẹ nhõm chưa phát sanh nay đang phát sanh, về nhẹ nhõm đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.

6- Khi có yếu tố định (định ), vị khất sĩ ý thức là mình có định, quán chiếu rằng : tâm mình đang có định. Khi không có định, vị ấy ý thức là tâm mình không có định. Vị ấy ý thức về định tâm chưa phát sanh nay đang phát sanh, về định tâm đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.

7 - Khi có yếu tố buông thả ( hành xả ), vị khất sĩ ý thức là mình có buông thả, quán chiếu rằng : tâm mình có buông thả. Khi không có buông thả, vị ấy ý thức là mình không có buông thả. Vị ấy ý thức về sự buông thả chưa phát sanh nay đang phát sanh, về sự buông thả đã phát sanh nay đang được thành tựu viên mãn.

" Cứ như thế, vị khất an trú trong sự quán niệm về bảy yếu tố của sự ngộ đạo như là đối tượng tâm thức nơi đ6ói tượng tâm thức; hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Vị ấy sống trong sự thường trực quán niệm qúa trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức ấy, hoặc qúa trình huỷ diệt nơi đối tương tâm thức ấy, hoặc cả qúa trình sinh khởi lẫn qúa trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức ấy. Hoặc vị ấy quán niệm : "Có bảy yếy tố của sự ngộ đạo đây ", đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức dó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Quán niệm về bảy yếu tố của sự ngộ đạo như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa qúy vị"

Tiếp đó, vị khất sĩ quán niệm bốn sự thật cao qúy như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức.

Quán niệm như thế nào ?

Khi sự kiện là khổ đau, vị khất sĩ quán niệm: d8ây là khổ đau. Khi sự kiện là nguyên nhân tạo thành khổ đau, vị ấy quán niệm: đây là nguyên nhân tạo thành khổ đau. Khi sự kiện là khổ đau có thể chấm dức, vị ấy quán chiếu : khổ đau có thể được chấm dức. Khi sự kiện là con đường dẫn đến sự chấm dức khổ đau, vị ấy quán niệm : có con đường dẫn đến sự chấm dức khổ đau.

Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm về bốn sự thật cao quý như là đối tượng tâm thức nơi đối tương tâm thức; hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. ấị ấy an trú trong sựquáb biệm qúa trình sinh khởi nơi đối tưọng tâm thức ấy, hoặc qúa trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức ấy, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khỏi lẫn qúa trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức ấy. Hoặc vị ấy quán niệm : " Có bốn sự thật cao quý đây" đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức đó, không bị một thứ gì trong cuộc đời
làm vướng bận. Quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa qúy vị.
[Dịch Và Chú Giải: Thiền Sư Nhất Hạnh]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz