Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Tin tức Phật sự >>  Thế Giới
Cây cầu tình thương Việt Nam trên dòng sông thanh thoát
Cây Cầu Việt Nam-Ảnh: Việt Nam Phật Quốc Tự
Ngoài việc đem đến cho chúng tôi niềm vui, những con chim hồng hạc còn giúp tôi làm được một vài việc thiện ích cho đời. Có thời kỳ việc xây cất chùa phải tạm ngưng vì ngân quỹ của chúng tôi cạn kiệt.
DÒNG SÔNG OAN NGHIỆT

Ngoài việc đem đến cho chúng tôi niềm vui, những con chim hồng hạc còn giúp tôi làm được một vài việc thiện ích cho đời.

Có thời kỳ việc xây cất chùa phải tạm ngưng vì ngân quỹ của chúng tôi cạn kiệt.Tận dụng lúc rảnh rỗi này tôi đi thăm anh chị em chim hồng hạc và đặt tên cho chúng. Tôi thuộc nằm lòng tất cả những điểm cư trú của từng cặp chim, nên được mọi người đặt cho biệt danh là cuốn từ điển sống về chim hạc.

Hàng ngày tôi lên đường vào sáng sớm, mang theo ống dòm, máy chụp hình cùng đồ ăn thức uống đủ cho một ngày đường và lang thang mãi đến 6 giờ chiều mới trở về. Tôi chậm rãi bước đi, vừa thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên, vừa chú ý quan sát đàn chim từ xa, canh đúng lúc chúng xòe cánh múa thì chụp ảnh.

Thế rồi bữa nọ, khi đi về phía đông vườn Lâm Tỳ Ni tôi chứng kiến một cảnh tượng thương tâm. Bấy giờ đang vào mùa mưa, nước trên dãy Hy Mã Lạp Sơn tràn xuống chân núi rồi hung hãn đổ ào vào dòng sông. Tôi chứng kiến cảnh tượng rất đông đàn bà và trẻ con đang lội bì bõm qua khúc sông nước dâng cao thật vô cùng nguy hiểm.

Tôi chạnh lòng thương cảm khi nghĩ rằng ngay tại vùng đất thiêng mà chúng sanh vẫn còn phải chịu nhiều vất vả gian nan. Khi tìm hiểu thêm tôi mới biết rằng dòng sông này hàng năm đã cướp đi nhiều mạng sống người dân địa phương. Vào mùa khô nước cạn, mọi người có thể đi qua dễ dàng nhưng đến mùa mưa nước chảy xiết, những người yếu đuối bất cẩn thường bị cuốn trôi. Đáng thương nhất là trường hợp những gia đình có người bệnh nặng phải di chuyển ra thành phố, gặp mùa nước lũ đành bất lực bó tay không sao đi được. Vì vậy người dân trong vùng thường gọi đây là "Dòng sông oan nghiệt".

Nhìn những người bụng mang dạ chửa vất vả lội qua dòng sông thật xót xa. Tội nghiệp nhất là trẻ em và phụ nữ, bộ đồ tươm tất họ mặc trước khi đi qua sông đã trở nên lấm lem ướt sũng khi đến bờ bên kia, có người run lên cầm cập vì lạnh. Thanh niên trai tráng còn có thể mặc quần ngắn bên trong để qua sông rồi xỏ quần dài vào, chứ còn phụ nữ thì đành phải tiếp tục đi chợ hay công việc trong bộ đồ ướt.

Hôm đó tôi bỏ dở chương trình đi thăm hồng hạc và trở về chùa. Liên tiếp mấy ngày sau tôi không còn được yên giấc, hễ đặt lưng nằm xuống những hình ảnh hôm trước cứ hiển hiện làm giấc ngủ trở nên nặng nề khắc khoải. Tôi trở dậy lên chánh điện thắp hương khấn nguyện và bày tỏ mơ ước có được điều kiện để xây cây cầu cho vùng này.

Tính tôi xưa nay không bao giờ hứa hẹn điều gì ngoài khả năng của mình, bởi tôi tin rằng nếu lỡ không thực hiện được lời hứa trong kiếp này thì có khi phải đầu thai kiếp sau để trả. Do đó lần này tôi cũng chỉ nói lên điều mình ước mong, đồng thời băn khoăn không nghĩ ra phương cách nào tiến hành, bởi vì ngay cả tiền xây chùa còn lo chưa xong.

Lòng những thiết tha mong ước giúp đỡ dân địa phương nhưng điều kiện tài chính không có nên tôi áp dụng mật pháp mà Thầy mình đã truyền dạy. Tôi mang nhang đèn đến bên dòng sông rồi thành tâm khấn nguyện:

- Con thấy chúng sanh tại đây khổ quá, cầu nguyện sao trong những ngày con lưu lại nơi này xin Chư Long thần Hộ pháp và hồn thiêng đất nước gia hộ cho con có cơ duyên tốt xây dựng tại đây một cây cầu.

Khấn xong tôi đọc một thời kinh, một bài chú rồi đập tay xuống đất ba cái để xin Thổ thần chứng giám.

Trở về chùa tôi vương vấn hoài ý nghĩ về việc xây cầu. Ba tuần lễ sau, một số môn sinh của tôi từ các nước phương Tây đến viếng Lâm Tỳ Ni để chiêm ngưỡng chim hạc. Nghe tôi tâm sự muốn xây chiếc cầu họ rất cảm thông và tỏ ra xúc động.

Những người này phần lớn làm nghề dạy học, không ai dư dả nên trước khi ra về mỗi người đóng góp một ít tổng cộng được 420 USD mang đến cho tôi. Thoạt đầu tôi tưởng rằng đây là khoản cúng dường cho chùa, nhưng không ngờ họ nói rằng tiền này dành để xây cầu, coi như anh em đóng góp một viên đá đầu tiên.

Tôi vô cùng xúc động hiểu rằng sự mầu nhiệm đã đến. Kinh nghiệm trong đời cho tôi biết những đồng tiền đóng góp thành tâm bao giờ cũng mang đến thành tựu cho công việc. Ngược lại những người có nhiều tiền mà cúng dường với dụng tâm không tốt thì ít khi được như ý. Chính vì lẽ đó nên khi nhận được khoản tiền tuy nhỏ nhưng được đóng góp một cách rất chân thành này, tôi quyết định bắt tay vào việc xây cầu.

Trước tiên tôi đem ý định này bàn với một số viên chức chính quyền địa phương. Một trong những cấp lãnh đạo là anh Bhattarai rất phấn khởi cho rằng đây là một sự kiện quan trọng cho toàn vùng. Thấy mọi việc diễn tiến tốt đẹp tôi cũng rất vui mừng.

Chỉ sau vài phiên họp chúng tôi đã nhanh chóng đi đến sự nhất trí. Kết thúc mấy buổi bàn bạc, chính quyền địa phương mở tiệc chiêu đãi. Chúng tôi thoả thuận chi phí xây cầu sẽ chia đôi, địa phương đài thọ một nửa còn tôi chịu phần còn lại. Tuy nhiên mọi việc chưa ký kết trên giấy tờ mà chỉ nói miệng với nhau.

Tôi có thói quen mỗi khi bắt đầu một công việc gì hệ trọng đều luôn tĩnh tâm toạ thiền để quán chiếu xem công việc sẽ tiến triển thế nào, liệu có thuận lợi hay khó khăn gì không? Điều bất ngờ là qua mấy lần tọa thiền tôi đều cảm nhận rằng sự hợp tác này sẽ mang đến nhiều khó khăn và hầu như chẳng bao giờ hoàn thành. Tôi hết sức ngạc nhiên, không hiểu sao mọi việc tiến triển có vẻ vô cùng thuận lợi ban đầu với sự nhiệt tình của chính quyền Trung ương, lẫn địa phương mà sao bây giờ linh cảm lại cho thấy là khó khăn? Tôi bèn thử nghiệm thêm lần nữa bằng cách ra tụng kinh rồi tọa thiền bên trụ đá vua A Dục nơi Phật giáng trần thì kết quả cũng y như thế.

Tôi e ngại quá bèn yêu cầu địa phương tổ chức một buổi họp. Trước các đại diện quận và xã, tôi nói rằng mình vẫn giữ lời hứa xây cầu nhưng đề nghị hai phương cách cụ thể: một là chính quyền trung ương và địa phương đứng ra làm, phần tôi sẽ đóng góp phân nửa phần chi phí, hai là một mình tôi đứng ra chịu trách nhiệm xây cầu chứ không chấp nhận phương thức hợp tác mỗi bên một nửa.

Thế là ngay lập tức nổi lên một sự chống đối quyết liệt, kể cả những viên chức trước đây vẫn tỏ ra kính trọng tôi nay thẳng thừng lên án rằng tôi thất hứa. Tôi xác nhận lại mình vẫn giữ lời và sẵn sàng đóng góp phân nửa kinh phí xây cầu, với điều kiện họ phải làm giấy cam kết hoàn thành mọi việc trong một thời hạn nhất định. Các viên chức chính quyền không đồng ý và thậm chí có người còn to tiếng xúc phạm tôi. Phiên họp căng thẳng này kết thúc trong sự phẫn nộ của địa phương trước thái độ dứt khoát không lay chuyển của tôi.

Mấy tháng trôi qua, trước sự án binh bất động của chính quyền, tôi quá nóng lòng bèn quyết định đứng ra xin giấy phép tự xây cầu. Thôi thì không biết bao nhiêu thủ tục hành chính phiền toái được dựng ra để gây khó khăn. Tôi theo lời dạy của người xưa liệu cơm gắp mắm, nên dự định chỉ xây móng cầu đơn giản, rồi gác những cây tre ngang qua. Thế mà họ đòi hỏi tôi phải có bản vẽ thiết kế do một kỹ sư chuyên về xây cầu tốt nghiệp tại một đại học của Nepal, rồi lại phải có đầy đủ chữ ký chấp thuận của từ cấp Trung ương như Bộ Giao thông vận tải xuống đến địa phương … Tôi kiên nhẫn hoàn thành mọi yêu cầu họ đưa ra, nhưng hễ vừa xong cái này họ lại đòi hỏi thêm cái khác.

Sự việc mới vừa bắt đầu đã gặp bao nhiêu trở ngại khiến tôi cảm thấy mệt mỏi và đã nhiều phen trù định gửi trả lại số tiền 420 USD và xin lỗi anh em.

Sau khi kiên trì giải quyết xong thủ tục hành chính nhiêu khê nhờ một số người có tấm lòng đã âm thầm giúp đỡ, tôi gặp trở ngại khác là chuyện đất đai. Chỉ riêng dòng sông là của nhà nước chứ còn đất đai hai bên cây cầu tương lai thì thuộc sở hữu của bốn người chủ và họ đã bắn tiếng rằng sau khi có cây cầu họ sẽ tổ chức thu tiền những người đi qua. Điều này đã từng xảy ra ở một vài nơi, nên tôi phải tìm cách điều đình, dự tính nếu không xong có lẽ phải bỏ tiền mua đất.

Mất hết hai tháng trời tôi mới giải quyết xong vụ này. Tôi thuyết phục toàn bộ 70 vị chủ tịch xã quanh vùng đồng ý không đặt ra bất kỳ khoản lệ phí nào bắt dân phải nộp, đồng thời vận động thành công các chủ đất thuận cho mọi người đi ngang đây không phải đóng tiền. Việc này tuy mất thì giờ nhưng đạt được kết quả thật mỹ mãn.

Chưa kịp mừng thì phải đương đầu với chuyện nội bộ, bởi vì ngay trong Hội đồng điều hành nhà chùa cũng có nhiều ý kiến phản đối và chỉ trích gay gắt. Tôi quan niệm cây cầu là việc cấp bách phải làm ngay để cứu bao nhiêu mạng người, còn chuyện xây chùa năm nay chưa xong có thể kéo dài sang năm khác cũng không hại chi. Tuy nhiên không phải ai cũng đồng ý với quan điểm của tôi. Vài anh em cho rằng tôi ôm đồm và hám danh, việc chùa đang ngổn ngang lại sa đà vào việc xây cầu. Một số người còn phao tin rằng tôi mang vật liệu xây chùa để làm cầu khiến tôi khá buồn lòng. Nhưng đã thành tâm phát nguyện nên tôi bỏ ngoài tai những lời thị phi và theo đuổi đến cùng công việc mà tôi thấy cần thiết để giúp người.

Qua sự việc này tôi thấm thía một điều ở đời muốn làm việc thiện hoàn toàn không dễ dàng, đôi khi phải vượt qua nhiều khó khăn trở ngại mới đi đến đích. Trong khi đó làm việc ác dễ dàng hơn nhiều, chỉ cần không tự kiểm soát mà thốt ra những lời xúc phạm người khác coi như đã phạm tội rồi. Do đó có thể nói rằng được sinh ra làm người đã là một điều may mắn, mà để trở thành một người biết tu nhân tích đức, quyết cống hiến đời mình cho việc thiện quả là không dễ chút nào.

Thấy mọi chuyện càng lúc càng khó khăn, tôi bèn ra nơi thánh địa khấn nguyện lần nữa. Thế rồi duyên lành đưa tới khiến tôi giải quyết được mọi việc.

Một buổi sáng đẹp trời người phát thư trao cho tôi phong thư gửi bảo đảm của một Phật tử bên Mỹ vốn là chỗ thân tình gửi qua. Thư viết rằng: "Thưa thầy, nghe nói thầy đang có ý định xây một cây cầu cho dân nghèo tại Lâm Tỳ Ni. Gia đình con xin được đóng góp công đức này và chịu hoàn toàn chi phí cho việc xây cầu".

Quả là một tin vui bất ngờ ngoài sự chờ đợi. Tôi bỏ bức thư vào túi và chậm rãi dạo một vòng quanh chùa, lòng bồi hồi vui sướng như vừa trúng số độc đắc. Nhưng tôi không vội trả lời thư cũng như chưa báo tin với các anh em mà bình tâm chờ đợi thêm một thời gian.

Không bao lâu sau, tôi lại nhận thêm bức thư của một gia đình từ Canada gửi qua hộp thư của tôi đặt tại bưu điện Bhairahawa. Họ viết rằng có nghe các anh em từ Lâm Tỳ Ni trở về thuật chuyện nên gia đình họ mong muốn được đóng góp toàn bộ chi phí xây cầu để hồi hướng phước báu cho cha mẹ đã quá vãng.

Thế là giờ đây tôi có trong tay khoản tiền không chỉ đủ để xây một mà đến hai cây cầu! Lần này tôi không thể giữ kín niềm vui cho riêng mình nên họp toàn thể anh em và đưa ra hai bức thư. Ai nấy đều hết sức vui mừng, nhiều người ngạc nhiên thốt lên: "Trời ơi, mầu nhiệm quá!". Mọi người đề nghị tôi trả lời ngay để yêu cầu những vị Mạnh thường quân sớm gửi tiền sang.

Thế nhưng trước những may mắn lạ thường này, tôi lại muốn chờ xem sự mầu nhiệm sẽ diễn biến tới đâu. Không thấy tôi trả lời, hai gia đình bên Mỹ và Canada gọi điện thoại sang yêu cầu tôi cho biết số tài khoản trương mục tại ngân hàng để chuyển tiền nhưng tôi trả lời rằng không nên vội vã vì tôi cần có thời gian suy nghĩ.

Ba tuần lễ sau, tôi tiếp tục nhận thêm hai lá thư nữa từ Pháp và Anh của hai gia đình mà tôi chỉ quen biết sơ giao. Trong thư cả hai cũng ngỏ ý xin được hỗ trợ toàn bộ kinh phí xây dựng cầu. Vậy là cho đến lúc ấy tôi có trong tay đến … bốn cây cầu.

Tất cả mọi người đều sững sờ trước diễn tiến sự việc. Một vài anh em đề nghị cứ nhận tiền của cả bốn gia đình với lập luận rằng sẽ dùng để xây hết cây cầu này đến cầu khác, cuối cùng nếu vẫn còn dư thì dùng để xây chùa. Dịp này tôi mới nhận ra rằng trong số những người quanh mình cũng có người khá tham lam và lại còn xúi bẩy tôi … ăn cắp.

Diễn tiến sự việc khiến cho tôi hoàn toàn tin tưởng rằng chư Phật, Bồ Tát, Long thần Hộ pháp và hồn thiêng sông núi đã ra tay gia hộ. Vì vậy tôi quyết định chia đều phước đức lớn lao này cho nhiều chúng sanh chứ không tập trung cho một hay vài gia đình. Mặt khác tôi cũng tin rằng một công trình lớn nào cũng phải qui tụ nhiều tấm lòng thành thì mới thành công và tồn tại lâu dài. Thế là tôi gửi thư cho cả bốn gia đình nói rằng:

- "Cám ơn các anh chị đã có lòng tốt, nhưng việc làm này là một phước báu lớn nên tôi đề nghị chia đều ra cho nhiều chúng sanh. Do đó đề nghị mỗi gia đình chỉ nên đóng góp cho việc xây dựng cầu tối đa 1.001 đồng mà thôi".

Đây là một truyền thống của người dân địa phương tin rằng hễ cúng dường vượt con số tròn thì sẽ nhận được may mắn và phước đức. Hai gia đình ở Canada và Mỹ đồng ý ngay, một gia đình gửi ủng hộ 1000 còn gia đình kia 1001 USD. Riêng hai gia đình còn lại hết sức bất bình, viết thư phiền trách tôi ích kỷ đã không cho họ cơ hội làm việc phước đức và giận dỗi không thèm đóng góp. Tôi đành chấp nhận mang tiếng oán và bình tâm tiến hành công việc mình đã định. Ngoài ra một số rất đông chư vị khác tại Âu Mỹ hay tin đã kẻ ít người nhiều tới tấp gửi tiền qua, người năm đồng kẻ mười đồng, nhưng không ai góp trên mức tôi đã quy định.

XÂY CẦU TÌNH THƯƠNG VIỆT NAM

Cầu Tình thương việt namCầu tình thương VN

Với khoản tiền đóng góp ấy lẽ ra tôi đủ sức thuê mướn toàn bộ kỹ sư cũng như nhân công để làm, nhưng trong việc này tôi cũng có quan điểm riêng của mình. Xưa nay mỗi khi làm một việc gì nhằm giúp đỡ người khác, bao giờ tôi cũng áp dụng nguyên tắc hai bên cùng hợp tác để người nhận không mang mặc cảm đi xin mà người cho không áy náy tâm trạng ban phát.

Tôi đề xuất một số viên chức địa phương cùng đứng ra cổ súy dân làng kẻ ít người nhiều đều tham gia chung sức. Tôi cam đoan cung cấp toàn bộ nguyên vật liệu còn họ đóng góp công sức. Theo tôi có như thế dân làng mới xem công trình này là của chính mình từ đó mà có ý thức bảo vệ cây cầu.

Chúng tôi đi từ làng này qua làng nọ để tổ chức những buổi họp mặt. Đi đến đâu tôi cũng được tiếp đón long trọng và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của chính quyền lẫn người dân. Nơi nào cũng hứa hẹn sẽ cung cấp tre để đặt móng và công nhân để xây dựng. Nhiệt tình nhất là anh Chanta Ram, Chủ tịch liên xã nơi đây, lần nào gặp tôi anh cũng thiết tha nài nỉ mời về nhà ăn uống.

Lễ khởi công xây cầu có sự hiện diện đầy đủ các cấp chính quyền Trung ương lẫn địa phương. Cả đại diện các chùa tại Lâm Tỳ Ni cũng đến dự và hoan hỷ cho biết sẽ hỗ trợ một phần tài chính. Tuy nhiên có vài vị đại diện một vài nước khi trao đổi riêng với tôi đã tỏ ý e ngại rằng việc này không bao giờ có thể hoàn thành.

Quả nhiên khi bắt tay vào việc thì tre đâu chẳng thấy mà người cũng không! Rõ ràng giữa lời hứa và việc làm là một khoảng cách khá xa. Tôi hết sức buồn lòng, có cảm giác như mình bị lừa gạt và có phần thất vọng.

Đây lại là một thử thách mới vì quả thật lúc ấy tôi đã định bỏ hết mọi việc. Nhưng rồi tôi lại nén lòng và quyết định đi tiếp con đường mình đã vạch ra. Người dân nơi đây đặt yêu sách nếu muốn họ làm thì phải trả lương. Cuối cùng tôi phải ra sức vận động và họ "nhân nhượng" đồng ý chịu lãnh phân nửa giá lương. Một số người nghĩ lại và tự nguyện phát tâm công quả.

Việc xây cầu thật gian nan. Gần đến mùa nước lũ nên chúng tôi phải tạm thời chuyển dòng nước sang hướng khác, hì hục khuân những viên đá tảng lớn để ngăn dòng. Việc di chuyển rất khó khăn vì đất đai còn lầy lội chưa hình thành con đường. Sau đó tiến hành đào sâu xuống bốn thước để đúc móng cầu. Nước cứ đổ ào vào nơi đây nên phải sắp xếp người liên tục múc đổ ra, tất cả mọi việc đều làm thủ công chứ không hề có máy móc gì cả. Xi măng, sắt thép thì phải mướn xe bò vận chuyển, con đường chưa đầy hai cây số mà phải mất đến một tiếng rưỡi đồng hồ mới mang được vào tới nơi.

Mỗi lần thấy trời vần vũ tôi âu lo vô cùng, hai tay đưa lên trời khoát khoát như cốt đuổi các lùm mây mưa bay đi nơi khác; một vài người thỉnh thoảng thấy tôi làm như vậy rất ngạc nhiên và cùng rủ nhau cười rần lên; thế là có thêm niềm vui để tiếp tục công việc; vì nếu trời mưa thì những công việc làm sẽ bị nước cuốn đi theo dòng sông oan nghiệt nầy. Một kỷ niệm không bao giờ quên được là có hôm mọi người phải đốt đèn cầy làm miệt mài tận một hai giờ sáng, vừa làm vừa khẩn cầu trời đừng đổ mưa để nước lũ cuốn phăng hết mọi thứ.

Một vài niềm vui nho nhỏ giúp mọi người quên đi mệt nhọc, đó là khi các em nhỏ cũng tích cực tham gia khiêng đá, xách nước, bưng gạch giúp chúng tôi. Có những cụ bà lụm cụm mang trái cây đến cho anh em, kể cả bánh trái tự tay họ làm lấy đem đến căn lều mà chúng tôi dựng lên gần bờ sông để mọi người lót dạ khi nghỉ ngơi.

Khi móng cầu vừa đúc xong hai trụ, thì một số chùa các nước cũng đến tiếp tay một số việc như cho thợ, kỹ sư đến giúp vài ngày, có vị đã ủng hộ tinh thần và cúng một số tiền. Đây là những kỷ niệm khó quên sau những ngày tháng gian nan vất vả.

Một số anh em người Việt sang làm công quả cũng nhiệt tình tiếp tay xây cầu. Tuy nhiên đến khi quá mệt mỏi họ lại trút hết mọi bực tức lên tôi, cho rằng tôi lo chuyện bao đồng vì những việc như thế này không dính líu gì đến chùa Việt Nam. Một đôi người còn cố công tìm hiểu xem tôi có hậu ý gì khi làm việc này hay không?

Trong khi đó tôi chỉ nghĩ đơn giản là vùng thánh địa này đã mang đến cho loài người một bậc thầy vĩ đại là Đức Phật Thích Ca. Do đó tất cả mọi việc làm đóng góp cho nơi đây đều nhằm đền đáp ơn sâu to lớn này. Ngoài ra mỗi khi trông thấy cảnh khổ của chúng sanh, nếu có điều kiện để giúp đỡ, thì tôi sẵn sàng làm ngay mà không bao giờ phân biệt đó là người Ấn Độ, Nepal hay Việt Nam …

Tôi cho xây bề mặt chiếc cầu rộng 1,5 mét đủ để cho người đi bộ và các phương tiện thô sơ như xe đạp hay xích lô đi qua mà thôi, mặc dù móng được đúc rất chắc chắn có thể chịu được cả xe hơi. Tôi không xây mặt cầu rộng hơn vì không muốn các loại xe cồng kềnh như xe bò, xe máy cày hay xe tải lưu thông e chẳng may họ va quẹt hư cầu sẽ tốn hao thì giờ và tiền bạc sửa chữa.

Không ngờ anh Chủ tịch liên xã Chanta Ram - người duy nhất có máy cày trong làng của anh gồm hơn một ngàn nhân khẩu - lại bỏ tiền lo lót các kỹ sư để họ xây cầu rộng ra hầu xe máy cày có thể qua được. May mắn tôi khám phá ra sự tình và ngăn chặn kịp thời. Thế rồi lần lượt chủ tịch các xã khác cũng đến gặp tôi yêu cầu nới rộng mặt cầu và hứa hẹn sẽ hỗ trợ công sức lẫn tiền bạc nhưng tôi không nghe vì đã có kinh nghiệm về những lời hứa hẹn của họ rồi.

Việc tôi không đồng ý đã làm nảy sinh căng thẳng và lập tức bao nhiêu khó khăn xuất hiện nhằm cản trở công việc. Đến độ một phụ tá của tôi là Thầy U Thoundara (nay là tiến sĩ U Thoundara, phó trụ trì chùa Miến Điện) - người Myanmar - không thể chịu đựng nổi nên một hôm thất thểu trở về chùa vừa khóc vừa hỏi xin tiền để mua chất nổ. Tôi ngạc nhiên hỏi mua làm gì thì thầy chua chát trả lời để giựt mìn sập hết cho rồi, bởi không gì vô lý hơn cái việc mình giúp đỡ người ta mà họ cứ theo phá phách không chịu để yên cho làm. Tôi bật cười rồi dịu giọng an ủi, nhưng thấy thầy vẫn còn căng thẳng nên hứa rằng sẽ suy nghĩ lại. Tôi nói thêm cứ chờ đến ngày khánh thành rồi giựt sập luôn cũng chẳng muộn.

Chúng tôi liên tục gặp rắc rối đến độ cuối cùng phải tạm ngưng việc xây cầu. Sau hai tuần lễ, thấy tôi cương quyết không nhượng bộ và còn tuyên bố sẽ cho bắt mấy cành tre qua cầu chứ không xây tiếp nữa họ mới chịu để yên. Sau đó các làng cử đại diện đến gặp tôi đề nghị tiếp tục công việc đang dở dang.

Sau ba tháng thi công chiếc cầu được hoàn thành, ngay cả tôi cũng không ngờ sự việc nhanh chóng như thế. Khi bàn đến lễ khánh thành, một số quan chức đề nghị với tôi nên tổ chức thật long trọng và mời những vị quan trọng mà họ thân thiết đến cắt băng khánh thành. Tôi thật không vui khi nghĩ rằng lúc bắt đầu xây dựng gian nan thì không thấy ai mà giờ đây lại quá nhiều người xuất hiện để chia phần. Thâm tâm tôi chỉ muốn mời những đại diện công nhân gồm thợ hồ, thợ mộc, kỹ sư để cắt băng khánh thành có lẽ sẽ ý nghĩa hơn.

Rồi một việc tình cờ giúp tôi mời được người vừa ý. Một hôm có việc lên thủ đô Kathmandu tôi được gặp gỡ vợ chồng Đại sứ Pháp ở Nepal là Claude Ambrossiani vừa nhận nhiệm sở tại Nepal được mấy tháng. Ông là một trong những nhân vật quan trọng của bộ ngoại giao Pháp và đặc biệt rất am tường về Việt Nam. Cô dâu của ông bà lại là một cô gái Việt Nam. Tuy đây là lần đầu tiên gặp gỡ nhưng do mối quan hệ khá gần gũi ấy mà cuộc nói chuyện giữa chúng tôi nhanh chóng trở nên thân thiện và vui vẻ. Nhân đó tôi bèn mời ông viếng thăm vùng Lâm Tỳ Ni và đứng ra chủ toạ buổi lễ khánh thành. Ông vui vẻ nhận lời ngay.

Tôi không hề thông báo với địa phương về việc này. Đã quen với tính cách vừa thẳng thắn, vừa ngang bướng của tôi nên chính quyền sở tại cũng yên chí rằng buổi lễ khánh thành chỉ có mình tôi đứng ra cắt băng khai mạc nên không chuẩn bị gì cả, vì vậy họ không quan tâm buổi lễ khánh thành cây cầu Việt Nam đầy mầu nhiệm này. Điều đó cũng đúng với ý tôi, muốn cho viên Đại sứ ở nước Âu Châu lần đầu tiên đến đây được mục kích mọi thứ y như trong thực tế chứ không phải là một sự xếp đặt trước. Thế là hôm đó vợ chồng vị Đại sứ phải khó khăn lắm để vượt qua những chổ sình lầy để đến chiếc cầu. Ông bà tỏ ra vô cùng xúc động, đi tới đi lui ngắm nghía chiếc cầu, ngỏ lời ca ngợi và hứa hẹn sẽ có những chương trình góp phần cải thiện đời sống người dân nơi đây.

Trong ngày trọng đại này, tất cả dân địa phương tụ tập múa hát thật vui vẻ. Mỗi làng đều mang tặng tôi một món quà, tuy đơn sơ nhưng nói lên tấm lòng quí mến chân thành của họ. Làng thì cho tôi nải chuối, nơi tặng trái cây đặc sản, thậm chí có làng đem biếu con gà, con cá ngon nhất mà họ có, mặc dù biết rõ rằng tôi thích ăn ngũ cốc và rau quả. Đặc biệt một vị chủ tịch xã còn nài nỉ xin tặng tôi một con bò, cùng một con dê để tôi có sữa uống và tôi phải khó khăn lắm mới từ chối được nhưng không làm ông phật lòng. Một trong những món quà dễ thương là các bộ áo quần may theo kiểu Nepal hoặc Ấn Độ do các cụ già tự tay may lấy thật tỉ mỉ để tặng cho tôi.

Một trong những người vui vẻ nhất ngày hôm đó là Thầy U Thoundara. Tôi xúc động nhìn thầy hớn hở đứng giữa nhóm người địa phương, trong đó có cả những người trước đây từng gây khó khiến thầy đã phải khóc, nay thì họ hoàn toàn thay đổi thái độ, thậm chí còn mang quà đến tặng cho thầy. Tôi bèn tiến đến gần bên hỏi nhỏ: "Thầy có cần tiền mua thuốc nổ nữa không?". Thầy U Thoundara nở nụ cười rạng rỡ: "Thưa thầy, con biết mình có lỗi. Chẳng qua lúc đó con quên lời dạy của thầy là làm việc phước đức hoàn toàn không phải chuyện dễ dàng".

Xúc động nhất là đại diện địa phương khi phát biểu đã ngỏ lời cám ơn dân tộc Việt Nam, cám ơn tổ chức Phật giáo và cá nhân tôi đã đến đây xây chiếc cầu để cứu bao nhiêu người khỏi cảnh nguy hiểm chết người.

Và kể từ ngày đó hễ bất cứ người Việt Nam nào đi vào các làng xóm nơi này đều được dân làng tỏ ra rất trân trọng.

Chiếc cầu được đặt tên "Cầu tình thương Việt Nam". Riêng con sông trước đây mang tên "Dòng sông oan nghiệt" nay được đổi thành "Dòng sông thanh thoát". Tôi làm giấy tờ tặng lại cho chính phủ Nepal thông qua chính quyền địa phương tiếp nhận và từ đó họ chịu trách nhiệm bảo quản cây cầu.

Thời gian sau một số anh em người Việt sang đất Phật chiêm bái khi đến thăm nơi đây nhận thấy vị trí cây cầu nằm giữa những cánh đồng mênh mông, giữa trưa nắng chói chang hay trời mưa xối xả thì người dân không có chỗ trú chân nên đã đề nghị xây thêm nhà chờ ở hai đầu cầu, nay cả hai đều đã làm xong.

Tổng cộng chi phí xây cầu kể cả lễ khánh thành tốn kém gần 35 ngàn USD. Điều bất ngờ là số tiền còn dư lên đến 98 ngàn USD. Vài anh em đề nghị tôi sung khoản tiền này vào quỹ cất chùa nhưng tôi cương quyết không đồng ý. Đây là tiền mọi người đóng góp để xây cầu, nay còn dư thì phải hoàn trả lại, nhưng một số khác lại yêu cầu tôi viết thư cho các vị đã gởi tiền xin sung vào quỹ xây chùa, tôi cũng không đồng ý. Thấy vậy nhiều vị tỏ ra rất bất bình và cho rằng tôi quá cứng nhắt trong việc làm. Tôi biết chắc rằng nếu tôi viết thư thì đa số mọi người sẽ hoan hỷ cúng tặng số tiền dư đó vào việc xây chùa. Nhưng tôi không muốn lạm dụng lòng tốt của mọi người, nhất là những người có tấm lòng. Tất cả khoản tiền ấy trước đây được đóng góp để xây chiếc cầu, nay mọi việc đã hoàn thành thì số tiền còn dư phải được hoàn trả lại, chứ không được tự tiện đem dùng vào việc khác. Vậy là tôi phải tốn đến 4.000 USD chi phí cho việc gửi trả lại tiền, đồng thời nhận lãnh không ít lời phàn nàn. Một số người đã viết thư phiền trách cho rằng tôi chê tiền mồ hôi nước mắt của họ!

Kể từ đó ngày ngày dân làng ung dung qua lại trên chiếc cầu bê tông bằng phẳng, không còn nỗi lo phải chết oan uổng bởi dòng nước xoáy bên dưới. Thỉnh thoảng khi rảnh rỗi tôi lại đến ngồi vào đúng cái nơi mà ngày xưa tôi đã từng nhang đèn thành tâm khấn nguyện mong mỏi xây được cây cầu, nay thì nó đang hiện diện ngay trước mắt. Tôi có được niềm hạnh phúc lớn lao khi hàng tuần tại những phiên chợ diễn ra theo thông lệ vào ngày thứ hai và thứ bảy, tôi vui sướng đứng ngắm người qua kẻ lại mua bán tấp nập. Đặc biệt mỗi lần nhìn cảnh các ông bà lão già yếu hay những người bệnh di chuyển dễ dàng qua cầu, lòng tôi lâng lâng niềm xúc cảm khó tả. Điều này cho tôi kinh nghiệm là mỗi khi làm được điều tốt thì mình là người hưởng lợi đầu tiên vì cảm nhận được niềm vui thật lớn lao.

Trải qua bao nhiêu khó khăn, cuối cùng tôi cũng đã hoàn thành được một tâm niệm mình ao ước, đây là một trong số những kỷ niệm rất đẹp của cuộc đời tôi.

BỆNH VIỆN TÌNH THƯƠNG

Một trong những quan chức rất xúc động trước sự việc này là vị Bộ trưởng Bộ Y tế Nepal. Vợ chồng ông cứ thiết tha mời tôi dùng cơm, sau nhiều lần từ chối không được, cuối cùng tôi đành nhận lời đến dùng bữa điểm tâm. Trong buổi gặp gỡ, họ chân thành nói với tôi:

- Vợ chồng chúng tôi vô cùng cảm mến ơn đức của thầy. Thầy là người đầu tiên đến đây mở ra một trang sử mới giúp Lâm Tỳ Ni phát triển, giờ đây lại còn xây dựng một chiếc cầu giúp cho dân chúng. Chúng tôi cám ơn thầy rất nhiều.

Tôi nói với họ:

- Đây là một việc làm xuất phát từ lòng thành của tôi nên ông bà không cần phải nói tiếng cám ơn. Tuy nhiên tôi có một đề nghị. Với cương vị là Bộ trưởng Bộ Y tế, xin ông tìm cách vận động xây cho dân chúng nơi đây một bệnh viện vì đó chính là điều họ đang rất cần.

Ông Bộ trưởng tỏ vẻ ngần ngại:

- Thưa thầy, tình hình kinh tế của Nepal hiện nay rất khó khăn nên việc xin kinh phí thật không dễ dàng chút nào.

Tôi vẫn một mực cho rằng ông ta có thể làm cũng như cần thiết phải làm cho được việc này. Cả hai ông bà có vẻ bối rối, sau cùng ông Bộ trưởng nói với tôi:

- Thôi được, tôi sẽ xin cố hết sức. Xin thầy hãy cầu nguyện cho tôi một lời.

Tôi tỏ ra hào phóng:

- Không phải một mà tôi sẽ cầu nguyện cho ông một ngàn lời!

Vài tuần lễ sau, khi tôi đang ở Luân Đôn bỗng nhiên nhận được điện thoại của vị Bộ trưởng. Ông vui mừng nói rằng:

- Thưa thầy, tôi có một tin mừng để báo với thầy.

Tôi ngạc nhiên:

- Tin gì vậy thưa Bộ trưởng?

- Nghe theo lời khuyên của thầy, tôi đề xuất ý kiến xây dựng một bệnh viện gần khu vực chiếc cầu và đã được Thủ tướng cũng như Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp thuận.

Quả là một tin mừng, tôi đề nghị ông nhanh chóng xúc tiến kế hoạch ngay. Hiện nay, bệnh viện đã được khánh thành và đưa vào hoạt động.

Mầu nhiệm thay, chỉ một việc thiện nhỏ đã kéo theo biết bao kết quả lớn lao tiếp theo sau đó.

NGƯỜI NGƯỜI LÀM VIỆC THIỆN

Lãnh đạo các tổ chức Phật giáo thế giới lẫn các quan chức chính quyền Nepal từ Trung ương đến địa phương đều tỏ ra rất cảm xúc trước những việc chúng tôi đã làm cho vùng đất Lâm Tỳ Ni. Đặc biệt sự kiện chiếc cầu trở thành một điển hình lan rộng ra thành phong trào mọi người cùng đua nhau làm việc thiện.

Xã hội vùng nầy vốn rất phân chia giai cấp, nhưng sau khi chúng tôi làm xong cây cầu thì một số người lấy đó làm bài học để giáo dục con cái. Bởi theo họ một người Việt Nam ở tại một đất nước xa lạ mà có lòng làm điều tốt cho nơi đây thì bản thân họ cũng tự thấy có trách nhiệm đối với làng của mình. Trước đây mỗi giai cấp chỉ liên hệ với người của giai cấp mình nhưng việc này đã đưa mọi người xích lại gần nhau. Xã hội cũng trở nên tốt đẹp hơn khi mọi người có được tinh thần tương thân tương trợ.

Việc làm của tôi không chỉ mang lại tiếng tốt cho đất nước Việt Nam mà cho cả cộng đồng Phật giáo. Người dân trong vùng (đa số đều là tín đồ Hồi giáo) trước kia thường chỉ trích những tổ chức Phật giáo các nước đến đây chỉ lo chiếm đất để cất chùa. Việc xây cầu đã khiến hầu hết người dân đều xúc động nhờ vậy thay đổi phần nào cách nhìn và từ đó giảm đi rất nhiều những sự chỉ trích đối với cộng đồng Phật giáo nơi đây.

Thật ra trong những năm đầu các nước đều đang tập trung công sức lo xây cất chùa nên chưa có thì giờ nghĩ đến chuyện khác. Hầu hết các chùa đều nghĩ rằng sau khi hoàn thành xong ngôi chùa mới bắt đầu tính đến chuyện giúp đỡ người dân địa phương. Việc tôi đi tiên phong đã kéo theo các nước nhanh chóng tham gia vào công tác xã hội. Chẳng hạn chùa Hàn Quốc thỉnh thoảng tổ chức phát gạo trong các dịp lễ lớn, hay các nhóm bác sĩ từ Hàn Quốc sang Lâm Tỳ Ni khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho dân nghèo. Chùa khác mua những chiếc xe lôi biếu cho các gia đình nghèo khổ để làm phương tiện kiếm sống. Có chùa tổ chức chương trình mổ mắt miễn phí cho người nghèo thoát khỏi cảnh mù lòa. Chùa Việt Nam nhận bảo trợ cho những chương trình về môi sinh cũng như cấp một số học bổng cho các em nhà nghèo hiếu học. Ngoài ra, nhận thấy nguồn nước nơi đây bị ô nhiễm dẫn đến việc một số người dân bị bệnh nên chúng tôi tổ chức những cuộc đi thử nước, khuyến khích người dân đào giếng và giúp họ tìm được nguồn nước sạch để sử dụng. Tôi cũng có chương trình hỗ trợ giống cây trồng cho những người nghèo để có được hoa lợi sinh sống. Tất cả những chương trình tôi xúc tiến không đòi hỏi nhiều tiền mà cần nhất là tấm lòng và sự kiên trì theo dõi chăm lo cho họ.

Tuy nhiên, dù luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người nhưng quan điểm của tôi là chỉ giúp đỡ phương pháp, nghề nghiệp rồi để họ tự làm và vươn lên bằng nỗ lực của chính mình. Tôi tránh tuyệt đối việc cho tiền, bởi vì đến lúc mình không còn điều kiện để cho tiền thì có khi lại nhận lấy oán hận. Chẳng hạn trong gia đình có người không chịu đi làm, nếu mình giúp họ bằng cách mỗi tháng cho vài trăm đô la để xài thì đến khi không thể tiếp tục cho nữa lúc ấy sẽ nảy sinh giận hờn trách móc. Cho nên Đức Phật có dạy rằng: "Từ bi nhưng phải có trí tuệ".

Chính vì vậy mà tôi luôn thẳng thừng từ chối những yêu cầu giúp đỡ khi nhận thấy rằng không chính đáng. Một lần tôi vừa mới trở về chùa sau chuyến dạy học ở châu Âu thì hôm sau khoảng gần 20 người chủ tịch xã đại diện các làng trong vùng mang mỗi người một món quà đến xin gặp. Tôi rất vui nghĩ thầm không ngờ dân làng lại dành cho mình cảm tình nồng hậu như thế. Nhưng sau khi nói ba điều bốn chuyện, những người này e dè mở lời rằng tôi đã thương thì thương cho trót và yêu cầu tôi làm cho con đường từ cây cầu ra đến tận đường lộ khoảng trên hai cây số. Họ nói thêm rằng nếu tôi chịu đứng ra chỉ huy thì chính quyền địa phương sẽ "sẵn sàng hợp tác". Thấy rõ ràng mọi người bắt đầu có tâm lý dựa dẫm, tôi bèn đập bàn làm ra vẻ giận dữ:

-À hoá ra là mấy người đến để định lợi dụng tôi. Xin nói cho quí vị biết, bản thân tôi là người Việt Nam mà chưa làm được gì cho đất nước Việt Nam, vậy mà vừa làm xong cây cầu giờ lại đòi hỏi phải làm thêm con đường. Thật là quá đáng!

Thấy tôi làm dữ họ vội vàng rút lui êm thấm. Mười ngày sau vài người trong số họ trở lại, đem theo quà cáp xin gặp tôi và ngại ngùng nói:

-Hôm nay chúng con đến đây để xin lỗi về việc đã làm phiền lòng thầy. Quả thật hôm đó trở về anh em đều cảm thấy xấu hổ và bàn bạc với nhau tự làm lấy con đường. Xin báo cho thầy biết tin này, kính nhờ thầy chú nguyện và mong thầy hết giận.

Thế là con đường được giải quyết xong. Riêng về việc xây trường học, hiện nay địa phương đang đề nghị cấp đất và nhờ tôi cất cho dân làng một ngôi trường khang trang thay thế nhà trường cũ đang bị hư hại khá nhiều. Tôi đã đi xem đất nhưng còn chưa quyết định bắt tay làm. Tôi sẵn sàng xây dựng một ngôi trường nhưng không đồng ý bao thầu hết mọi thứ sau đó mà yêu cầu chính người địa phương phải chịu trách nhiệm việc quản lý ngôi trường. Tôi đã cùng với đại diện chính quyền bàn bạc trong hơn mười phiên họp nhưng chưa đi đến thống nhất. Hiện nay họ đang ra điều kiện tôi phải trả lương cho giáo viên nhưng tôi không chấp thuận mà chỉ đồng ý sẽ làm cố vấn về giáo dục, còn việc điều hành và bảo quản ngôi trường phải thuộc về địa phương.

Còn bao nhiêu việc phải làm nên tôi luôn mong ước được nhiều bạn trẻ có thiện chí sẵn sàng đến nơi đây để tiếp tay với mình. Việc làm từ thiện không đơn giản chỉ cần có tiền bạc hay tấm lòng mà đòi hỏi cả một sự hiểu biết tường tận từ tính cách người dân đến phong tục tập quán địa phương mà mình muốn giúp đỡ. Có những quốc gia giàu có đổ tiền giúp đỡ một nước nghèo với mục đích tốt đẹp, nhưng trong thực tế, nếu sử dụng đồng tiền không đúng cách sẽ dẫn đến kết quả ngược lại là phá vỡ trật tự xã hội nơi đó. Việc giúp đỡ tốt nhất là phải làm sao giúp họ vươn lên, chỉ dẫn cách thức và để cho họ tự làm lấy chứ không làm thay cho họ.

Kinh nghiệm ngay tại Lâm Tỳ Ni cho thấy có một số nước đến đây xây dựng chùa với kinh phí được cấp dồi dào nên người đứng ra thực hiện sử dụng đồng tiền rất bừa bãi. Đây là điều trước nay tôi vẫn một mực chống đối và dần dà đã được mọi người đồng tình. Chẳng hạn như việc trả lương cho công nhân người Nepal phải tính theo khung giá hiện hành trong nước chứ không nên phá giá bằng cách trả gấp đôi gấp ba. Đến khi chương trình xây dựng của các chùa chấm dứt thì xã hội Nepal phải gánh chịu hậu quả tiêu cực mà chùa các nước gây ra.

Với tư cách Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo Thế giới, tôi luôn khuyến cáo các tổ chức Phật giáo nước ngoài khi đến đây phải tôn trọng truyền thống và nề nếp của đất nước Nepal, điều này khiến chính quyền địa phương lẫn Trung ương đều kính nể tôi.

Một trường hợp không hay khác xảy ra ngay tại Lâm Tỳ Ni đã giúp cho các nước ngoài đến đây xây chùa rút kinh nghiệm. Liên đoàn Phật giáo một nước nọ tham gia chương trình phát triển Lâm Tỳ Ni bao gồm việc kiến thiết và khai quật các di tích cổ đang tiến hành tại đây với khoản kinh phí rất lớn. Vị Trưởng ban Khảo cổ học nước ấy được cử sang Lâm Tỳ Ni làm việc với khoản lương khá cao lên đến 17 ngàn USD một tháng. Anh này tiêu tiền như nước, ngụ tại khách sạn năm sao Hokke, mỗi cuối tuần lại tổ chức chiêu đãi linh đình với rượu mạnh được khui không hạn chế. Tôi đã vài lần góp ý về việc này nhưng anh không nghe và kể từ đó tỏ ra không ưa tôi.

Anh thuê một số người bản địa, trả lương hậu hỉ và ban phát nhiều quyền lợi. Sau đó do không hài lòng anh cho một vài người nghỉ việc. Đột nhiên bị mất cả quyền lợi lẫn chức vụ, hết cơm ngon rượu ngọt, thế là những người này sinh lòng oán hận và tìm cách hãm hại anh.

Đúng lúc ấy tôi vừa từ nước ngoài trở về Lâm Tỳ Ni sau một chuyến đi dạy. Ngay trên máy bay tôi đọc được tờ báo phát hành tại Kathmandu đăng một tít lớn chạy suốt tám cột đưa tin anh Trưởng ban khảo cổ nọ buôn lậu á phiện. Tôi đoán ngay có điều gì đó bất thường trong chuyện này.

Khi nghe tin tôi vừa về tới thì viên Đại sứ đất nước của anh khảo cổ đến tìm tôi trong tâm trạng hốt hoảng vì chưa biết đối phó cách nào. Kẻ hãm hại anh này đã dàn cảnh thuê một người dân miền núi mang hai ký lô heroin đem đến tận văn phòng viên Trưởng ban rồi báo tin cho cảnh sát. May mắn hôm ấy anh Khảo cổ không đến làm việc nên chỉ có anh chàng người Nepal bị bắt.

Sau đó viên Phó Tổng giám đốc Cảnh sát vùng Lâm Tỳ Ni đến gặp tôi để thông báo việc họ sắp sửa ký lệnh bắt giam anh Trưởng ban khảo cổ. Tôi bèn thẳng thắn phân tích mọi việc:

-Đây là một chuyện khó tin và chắc chắn có kẻ nào đó do tư thù mà dựng ra để hãm hại vị này. Chúng ta thử nghĩ xem, lương hàng tháng của ông ta là bao nhiêu? Đó là khoản tiền rất lớn nên ông ta mới có một cuộc sống xa hoa đến thế, điều này tất cả mọi người ở đây đều thấy rõ. Còn về việc buôn lậu thuốc phiện, một điều hiển nhiên ai cũng biết là nếu muốn mua nó ông ta chỉ cần lên thủ đô và tìm cách móc nối chứ không ai ngây thơ đến độ buôn hàng quốc cấm tại vùng hẻo lánh nơi mà nhất cử nhất động của ông ta đều được mọi người chú ý. Trong việc này, nếu các anh xử sự không khéo sẽ đưa đến hậu quả khôn lường. Tôi xin nhắc rằng viên Trưởng ban Khảo cổ này bị bắt thì cũng đồng nghĩa với việc hàng triệu người Nepal chịu thiệt thòi theo, bởi vì không phải chỉ đất nước của ông ta mà cả quốc tế sẽ ngưng không đổ tiền của vào chương trình khôi phục Lâm Tỳ Ni, cũng chính là giúp cho sự phát triển đất nước Nepal. Vì vậy theo tôi điều nên làm là các anh phải truy cho ra nguồn gốc sự thật bên trong sự việc này và thôi không chĩa mũi dùi vào vị Trưởng ban khảo cổ nọ. Ngay như các anh cứ tiếp tục đề quyết tội lỗi thì nhiều lắm ông ta chỉ bị tù một thời gian theo luật lệ Nepal và sau đó sẽ trở về nước của mình, nhưng tất cả các anh sẽ bị liên lụy nếu Chính phủ nước họ chính thức đứng ra phản đối.

Để chấm dứt câu chuyện, tôi nói thêm nếu mọi việc không được giải quyết thoả đáng thì tôi sẽ đích thân đến gặp Nhà vua và đưa vấn đề ra trước Quốc hội Nepal. Sự kiện này sau đó đã được giải quyết một cách êm thấm. Vị Đại sứ đất nước của anh khảo cổ mừng rỡ ôm chầm tôi cám ơn sau mấy tuần lễ lo lắng không yên.

Trên đây là một số kinh nghiệm tôi rút ra trong những năm sống và làm việc tại Nepal.
[Huyền Diệu]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz