Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Tin tức Phật sự >>  Quốc nội
Nhớ về nguồn
Ảnh minh họa
Ngôi chùa ngày xưa nằn bên cạnh Đình Làng, hướng trở vào vùng đất Nam triều đã gợi nhớ một thời vang bóng của tuổi thơ . Bao bọc chung quanh bởi những hàng dậu, xương rồng, lan, móng tay và những tàn gai xanh, như để trợ giúp cho sự sinh hoạt, của người Phật tử, Làng An Bằng vây.
Đùng một cái những tiếng bom inh ỏi đã tàn phá ngôi làng, hơn thế nữa ngôi chùa cũng đổ nát, tan thương, khiến cho nhiều người phải đau lòng. Bởi nơi đây bà con người Phật tử đã gia công giầy dựng một tín ngưỡng vừa là để thờ phượng vừa là để tôn kính Đức Thế Tôn để có nơi lễ bái trong lúc tâm trí đang đau khổ.

Năm 1968 trận bom đã tàn phá ngôi Làng và cả ngôi Chùa không thương xót, khi trở về thăm lại Chùa xưa, thì than ôi đã tàn tành đổ nát. May mà bác Nguyễn Tữa đã hiến nhà của bác để rước thân hình của Đức Thế Tôn về thờ tự. Trong lúc này người Phật tử chỉ biết đến nhà của bác để chiêm bái lễ lạy.

Trong thời gian khá lâu năm 1972 nhờ có ban trị Khuôn Hội đã mua đất đai để xây dựng lại ngôi chùa hiện tại, cũng nhờ vào tài chánh của Phật tử tín tâm. Và cũng nhờ sự bồi thường chiến tranh một số và cũng do công sức của những Phật tử trẻ già đóng góp. Âu cũng do cái vô thường tan hợp biến dạng, nên hôm nay chúng ta có một ngôi chùa đầy khang trang lộng lẫy. Ở xứ Nam Triều, ngôi chùa vẫn hiên ngang sừng sửng hiện diện ngoài khuôn viên có một tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát cao lớn, nhân từ với bình tịnh thuỷ trên tay, như đang rưới lên những gọt nước cam lộ đầy lòng yêu thương đến với chúng sanh.

Trong đây để giải đáp những vấn đề sau khi chết ta đi về đâu.
Xin mời quý vị nghe lời thuyết giảng sau đây của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Bài Giảng của Sư Ông Thích Nhất Hạnh ở khoá tu mùa hè tại trường Đại học UCSD .( San Diego) ngày 29 tháng 8 năm 2001 đã nói lên sự thật của thân và tâm, là tìm về cái thực tại" vô khứ, vô lai" mà bản chất đích thật đã có sẵn. Ngài quẹt que diêm làm thí dụ điển hình và ngài dạy rằng khi nhìn vào hộp diêm, thì chúng ta đã thấy vô số điều kiện, như đám mây, rừng cây , bác triều phu, diêm sinh vv.. và nhiều yếu tố khác nữa.

Khi ngài đua tay lấy que diêm và nhắc cho đại chúng biết rằng. Trong đây đã hội đủ điều kiện chỉ cần hành động của mình quẹt lên là ngọn lửa xuất hiện, và câu trả lời sau khi chết ta chẳng đi về đâu cả. Đủ điều kiện thì hiện, thiếu điều kiện thì ẩn. Đơn giản vậy thôi.

Đức Phật Đản Sanh

Đức Phật thị hiện là biểu tượng của" Đức Vô Tướng" cho chúng sanh học hỏi, để thực hành trên đường tĩnh thức đi tới Giác ngộ, Giải thoát. Hình ảnh Đức Phật Thị Hiện không phải là một huyền thoại, hoá sinh ảo tưởng, mà là một con người đích thực bằng xương bằng thịt. Nhưng Ngài có lòng Đại Bi và Trí tuệ siêu tuyệt, Ngài tư duy, nhìn thấu triệc sự việc,.Nên Ngài chấm dức được những tham đắm, giận hờn không còn đau khổ như chúng ta.

Cứ mỗi độ mùa xuân đi qua, khí trời đối dần, ánh nắng cũng rộ lên. Tuy vậy mà cái mát mẻ của mùa xuân cũng đang nằm gần bên cạnh làm cho những đoá hồng, hoa thuỷ tiên, hoa thượt dược chen nhau đua nở. Và đâu đó, hoa cau hoa bưởi cũng tỏa mùi hương thơm ngào ngạt. " Rằm tháng tư về đây ngày trần gian chào đón Đức Phật Từ Tôn" Tiếng hát ngày xưa hiện về rất rỏ, như báo hiệu mùa Phật Đản đến với nhân loại. Ngày mà Đức Thế Tôn Nhập Thế để nói lên ba gai đoạn lịch sử của bậc Đại Giác là sinh ra tại nơi gốc cây Vô Ưu ở vườn lâm tỳ Ni, Thành Đạo nới Gốc cây Bồ Đề bên cạnh giòng sông Anôma, và nhập niết bàn ở giữa rừng cạnh thành phố sesali. Đã nói lên sự dức hoát của bậc đáng tôn kính nhất trong lịch sử của loài người. Ngài xem danh vọng, ngai vàng như đôi dép bỏ, cắt ái lên đường. vì chúng sanh tầm đạo giải thóat đem an vui bình đẳng đến với chúng sanh. Suốt bốn mươi chín năm khắp đó đây nơi xứ Ấn độ. giáo hoá cho chúng sanh thấu rõ nguồn cội bản thân con người.

Hàng năm vào trung tuần tháng tư đầu hạ, khắp nới trên thế giới đâu đâu cũng rộn ràng, tổ chức Lễ Phật Đản để chào mừng cung kính, bậc Đại Giác Ngộ ra đời cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm. Ngài đã để lại cho nhân loại một bức thông điệp. không tiềm tàng lớn rộng, nhưng đầy ắp chất liệu nhiệm mầu, cái nổi bậc nhất là sau khi ngài thành đạo. Ngài đã trao truyền cho năm đệ tử đầu tiên trên núi "Linh Thứu" qua bài Pháp thoại. " Chuyển Pháp Luân Kinh" đã nói lên đích thực, của chúng sanh trải qua nhiều đời kiếp bị màn vô minh bám phủ, như con cua dính mắt tấm lưới, rồi cứ vùng vẩy, mà càng vùng vẩy, bao nhiêu thì càng, dính chặc thêm vào bấy nhiêu.

Nhớ lại ngày xưa

Hình dung lại, tiếng trống, tiếng chuông tiếng mỏ rền vang, ở ngôi chùa cũ nằm cạnh đình Làng lúc đó thì mình còn rất nhỏ, chỉ mường tượng lại thôi, đoàn người nam Phụ lảo ấu, thời bấy giờ, các cụ quần trắng áo đen, vài cụ bận áo dài có chữ thọ với chiếc khăn đóng màu đen. Các bà phần đông quần trắng áo lam, gia Đình Phật Tử thanh thiếu niên áo lam quần sọc ngắn, màu xanh, oanh vũ thì áo lam quần ngắn có sọc chéo. Thiếu nữ quần trắng áo lam dài. Đoàn người diễn hành ra vùng đất Nam Triều và trở về quanh Đài Lộ Thiêng để cung kính cử hành lễ Phật Đản.

Ngọn gió nam non đầu hạ phớt qua lúc mặt trời mới mọc lên mấy sào, đất nơi đó bắt đầu the nóng, chúng tôi là một oanh Vủ non dại ngơ ngáo, với bộ đồng phục của oanh vủ nai nịt chắc chắn, gọn gàn chăm chú sắp hàng trước khán đài. Tiếng xướng tụng của Anh Nghi Lễ Lê Văn Bính, vang lên từng tiếng một Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Rồi Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi, được đồng lọat Phật tử cất lên, rộn ràng lan tỏa trong thôn làng, như để chào mừng đấng Thế Tôn nhập thế. Nắng càng lên ,hơi nóng trong người bốc ra ngùn ngụt. Dù vậy mà nhìn mọi người, ai ai cũng nở nụ cười tươi mát, như đang đón mừng những gì thiêng liêng nhất.

Mới đó mà đã một chuổi ngày dài, nếu đếm lại thì thật là vô tận, mới đó mái tóc ngày nào đang xanh, bây giờ đã trắng xoá, cho nên những tế bào sinh sản ngày nào, bây giờ cũng huỷ diệt theo thời gian, những kỷ niệm xưa. có còn chăng, thì chỉ là giấc mộng vô thường. Bởi cái vô thường không thật có, nó luôn chuyển xoay. Cho nên Đức Thế Tôn dạy " bài Pháp về Vô Thường, Vô Ngã, Khổ, Không," cái sắc tướng bên ngoài nó không bao giờ có thật, nhưng mình cho đó là thật, nên mới mang tâm tư lo lắng muộn phiền, rồi phân biệt hơn thưa để rồi phải khổ. Sự ra đời của Đức Thế Tôn là một kết qủa, của nhân duyên thành tựu. Những bài Pháp thoại đầu tiên Ngài đã giảng dạy cho Năm anh em ông Kiều Trần Như là một lẻ thật tiêu biểu là Chuyển Pháp Luân Kinh là thông điệp tối hậu đến với chúng sanh.

Trích Đoạn này ở sách Đường Xưa Mây Trắng từ trang 22 đến của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh để cúng hiến quý vị:

Hồi đó sa môm Assaji ( A thấp bà tỳ) vẫn còn tu theo lối khổ hạnh tại vườn nai ở Isipatana. Một hôm, sau giờ thiền toạ, thầy Assaji trông thấy thấp thoáng một vị sa môn từ ngoài đi đến. Nhìn kỹ, ông biết đó là Siddhatta( tất đạt đa) . Ông vội báo cho các bạn cùng biết. Thầy Bhaddiya ( bạt đề) nói: Siddhatta hồi đó đang tu khổ hạnh với chúng ta thì nửa chừng bỏ cuộc.

Ông ta ăn cơm, uống sữa, vào ra thôn lạc và quen với bọn trẻ trong xóm. Sa môn Siddhatta đã làm cho chúng ta thất vọng. Vậy nếu ông ấy có đến thăm chúng ta thì chúng ta không nên đón tiếp làm gì. Cả năm người đống ý sẽ không ra tận ngõ để đón tiếp mà cũng không cần đứng dậy khi Siddhatta bước vào.

Nhưng sự tình xảy ra khác hẳn. Khi thấy Siddhatta bước vào tới cổng, không ai bảo ai, cả năm người đều tự đứng dây. Sa nôm Siddhatta có một phong độ uy nghi. Người ông như tỏa chiếu hào quang. Một bước chân của ông như nói lên được sức mạnh của tâm linh ông và cái nhìn của ông như lấy đi hết tất cả mọi ý niệm kháng cự có thể có trong năm người Sa môn đã cùng tu chung với ông thưở trước. Sa môn Kondanna( Kiều Trần như) chạy tới trước. Ông đỡ lấy bình bát trên tay Siddhatta. Sa môn (Mahanama) chạy múc nước cho Siddhatta rửa tay và rửa chân. Sa môn Bhaddya( bạt đề) kê một chiếc ghế để mời Siddhatta ngồi. Sa môn Vappa ( bà sa bì ) đi tìm một cái quạt bằng lá cây thốt nốt để quạt cho Siddhatta Assaji thì đứng ngớ ngẩn một bên, chẳng biết gì.

Sau khi Siddhatta đã rửa tay rửa mặt rửa chân và ngối xuống, Assaji mới đi tìm một bát nước lạnh đem tới cho Siddhatta giải khát. Rồi năm người bạn củ cùng ngồi quanh Siddhatta. Siddhatta đưa mắt nhìn quanh các bạn rồi nói:
Này quí vị tôi đã tìm ra đạo giải thoát rồi, và tôi sẻ chỉ dạy cho qúi vị.

Nghe nói như thế, Sa môn Assaji nửa tin , nữa ngờ, có lẽ bốn người kia cũng có cảm tưởng giống như ông. Mọi người im lặng hồi lâu. Bổng Kodanna lên tiếng:
Sa môn Gotama ! Hồi trước trong thời gian tu với chúng tôi, bạn đã nửa chừng bỏ cuộc. Bạn đã ăn cơm, uống sữa và giao thiệp với người lớn và trẻ con trong xóm. Làm sao bạn có thể tìm được đạo giải thoát? Làm sao bạn có thể chỉ cho chúng tôi đạo giải thoát?
Siddhatta nhìn vào mắt Sa môn Kondanna. Ông hỏi: Sa môn Kondanna, bạn đã quen biết với tôi từ gần sáu năm nay. Trong thời gian ấy tôi đã từng nói dối bạn một lần nào chưa ?
Kondanna giật mình. Ông nói: Sa môn Gotama nói đúng. Tôi chưa bao giờ từng nghe sa môn nói một điều gì sai với sự thực.
Vậy các bạn hảy nghe đây. Tôi đã tìm ra được Đạo Lớn rồi và tôi sẽ chỉ dạy cho các bạn. Các bạn là những vị sa môn đầu tiên trên đời được nghe giáo Pháp mầu nhiệm mà tôi đã tìm ra. Giáo Pháp này không phải kết qủa của sự suy luận. Giáo Pháp này là hoa trái của thực chứng. Các vị hãy đem hết nhận thức thanh tịnh mà nghiêm chỉnh lắng nghe.
Giọng nói của bụt man uy lực tâm linh rất lớn khiến năm người tự động đổi thế ngồi, nghiêm chỉnh hướng về người. Họ chấp tay lại. Kondanna thành kính nói: Xin sa môn Gotama đem lòng xót thương mà dạy cho chúng tôi.
Bụt trang nghiêm mở lời:
Này các vị sa môn, có hai thái cực mà người tu đạo nên tránh: một là lao mình vào khoái lạc nhục thể, hai là hành hạ xác thân cho hao mòn. Cả hai con đường đều đưa tới sự phá sản của thân tâm. Con đường mà tôi tìm ra là con đường trung đạo tránh được hai thái cực ấy và có thể đem đến trí tuệ, Giải thoát và an lạc. Con đường đó là con đường bát chánh: nhận thức chân chính, tư duy chân chính, sinh kế chân chính, chuyên cần chân chính, niệm lực chấn chính và đinh lực chân chính. Tôi đã theo con đường bát chánh đạo đó và đã thực hiện được trí tuệ, giải thoát và an lạc.
Này các vị sa môn sao gọi là Chánh đạo? Sở dĩ gọi là chánh đạo vì con đờng này không phải là con đường trốn tránh đau khổ mà là con đường đối diện trực tiếp khổ đau. Con đường bát chánh này là con đường của sự sống tỉnh thức. Vì vậy chánh niệm là khởi điểm. Có chánh niệm thì sẽ có chánh định, nghiã là định lực có tác dụng đưa tới trí tuệ. Nhờ có niệm lực và định lực chân chính thì nhận thức, tư duy, ngôn từ, hành động, sinh kế và chuyên cần cũng sẽ đi vào chánh đạo. Trí tuệ được phát sinh sẽ giải thoát cho người hành giả tất cả mọi ràng buộc khổ đau và làm phát sinh nơi người hành giả nguồn an lạc chân chính.

Này các vị, có bốn sự thật mà người tu phải công nhận: sự có mặt của khổ đau: sự có mặt của nguyên nhân các khổ đau ấy: sự chấm dứt của khổ
đau. Bốn sự thật ấy là bốn sự thật nhiệm mầu, gọi là tứ Diệu Đế. Này các
vị sa môn, đây là sự thật thứ nhất: Khổ đau, sinh, già, và bệnh chết
là khổ: buồn, gận, ghen tức lo lắng, sợ hải là khổ, chia cách người
thân yêu là khổ, chung đụng với người ghét bỏ là khổ, tham đắm và kẹt vào
năm uẩn là khổ.
Này các vị sa môn, đây là sự thực thứ hai: nguyên nhân của khổ đau. Vì ngu muội; vì không thấy và không hiểu sự thật về bản thân và cuộc đời cho nên con người bị ngọn lửa của tham đắm, giận hời, ghen tức, sầu
não, lo lắng, sợ hải và thất vọng đêm ngày đốt cháy và hành hạ.
Này các vị sa môn, đây là sự thực thứ ba: sự chấm dứt của khổ đau. Đó là trí tuệ, là hiểu biết, là sự nhận thức về bản thân và về cuộc đời. Trí tuệ này, cái thấy đưa lại sự chấm dức của mọi sầu đau và làm phát sinh nguồn an lạc.

Này các vị sa môn, đây là sự thực thứ tư: con đường diệt khổ. Đó là con đường Bát chánh mà tôi đã trình bày, Bản chất của Bát chánh đạo được nuôi dưỡng bằng nếp sống tỉnh thức hằng ngày, đó tức là chánh niệm. Chánh niệm đưa tới Định và Tuệ, có công năng giải thoát mọi niềm đau và đem lại mọi an vui. Tôi sẽ hướng dẫn từng bước trên con đường thực hiện này.
Trong khi Siddhatta giảng giải bốn sự thực nhiệm mầu, sa môn Kondanna bổng thấy tâm mình bừng sáng. Ông thấy được lập tức con đường giải thoát thực sự mà lâu nay ông tìm kiếm. Nét mặt ông rạng rỡ. Thấy thế Bụt chỉ vào ông mà nói lớn.
Sa môn Kondanna ! Bạn đã hiểu! Bạn đã hiểu!. Kondanna chấp tay quỳ xuống bên ghế ngồi của Bụt. Ông thành kính nói.
Sa môn Gotama, xin thầy hãy nhận Kondanna làm học trò của thầy. Kondanna biết rằng dưới sự chỉ dạy của thầy, Kondanna sẽ đạt thành nguyện lớn.
Bốn vị sa môn kia thấy vậy cũng qùy xuống cả dưới chân Bụt và chấp tay cầu xin Bụt nhận làm đệ tử. Bụt đỡ năm người dây. Người bảo họ ngồi lên ghế. Người cũng ngồi xuống chổ ngồi của mình. Bụt nói.
Này qúy vị, bọn trẻ trong làng Uruvela (Ưu lâu tần loa ) đã đạt cho tôi là Bụt. Có lẽ quý vị cũng dung danh từ ấy để gọi tôi.
Kondanna hỏi lại.
Bọn con nít gọi sa môn Gotama là Bụt ? Bụt có nghĩa là "(Người tỉnh thức ) ?
Đúng như vậy. Và chúng gọi con đường mà tôi tìm ra là "đạo tỉnh thức " các thầy nghe có được không ?
Người tỉnh thức! Đạo tỉnh thức ! Hay lắm! Hay lắm ! Danh xưng vừa chính xác vừa đơn giản và thâm mật. Chúng con từ nay gọi thầy là Bụt và nền đạo lý mà thầy tìm ra là Đạo Bụt. Đạo tỉnh thức. Đúng lắm. Bởi vì nếp sống tỉnh thức hàng ngày, như thầy nói, là căn bản cho sự tu hành.
Năm người đã đồng ý tôn sa môn Gotama làm thầy, bây giờ đồng ý gọi sa môn Gotama là Bụt.
Bụt mỉm cười nhìn họ:
Xin các vị tinh tiến tu hành. Con đường đã tìm ra được. Nếu quý vị thực tập nghiêm chỉnh thì trong vòng ba tháng qúy vị sẽ đạt đến qủa vị giải thoát.
Những ngày tháng đi hoang của chúng ta mới đó hôm nay thì đã chồng chất không biết bao nhiêu lo nghĩ . Nhưng càng lo nghĩ bao nhiêu thì ta vẫn cảm thấy bất lực trươc cảnh. Sinh, Già, Bệnh, chết, và cứ mãi đí trong cảnh sinh tử luân hồi.
Xin trích đoạn thơ trong Cư trần Lạc Đạo của nhà Trần để cúng hiến qúi vị:

Lang thang làm kiếp phong trần khách
Rong ruổi tháng ngày mãi mù khơi
Chi bằng chùn bước về quê cũ
Để ngắm trời xanh mây nước trôi


Con người chúng ta luôn đi về phía trước mà quên rằng ta sẵn có một quê hương tươi tốt Chính Vua Trần đã cho chúng ta thấy những hiện tượng đó nhưng mà chúng ta vẫn cứ lang thang rong ruổi để càng bước thêm một bước thì quê hương đích thực lại càng xa thẳm. Bởi vậy Ngài nói chi bằng chùn bước về qưê để ngắm những áng mây chiều lảng đảng, và nhìn làn nước biết trong xanh nơi quê hương của mình vậy.
[Hải Bằng Tâm Nguyên An]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz