Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Phật Học >>  Căn bản Phật pháp
Ánh Đạo Vàng Phần 10-Hết
Thành Ca-tỳ-la-vệ rực rỡ một thời khi Phật còn tại đấy. Nhưng sau khi đã độ cho em là Nan-đà, cho con là La-hầu-la, cho bà Da-du và nhiều người khác trong họ Thích và ngoài dân gian, Phật lại từ giã vua Tịnh-phạn đi đến những xứ ở phía Nam. Thành cũ lại trở về với vẻ tiều tuỵ của cảnh đợi chờ xưa.
Trải bốn mươi lăm năm trời, từ khi đạo nhiệm mầu bừng sáng dưới cây Bồ-đề cho đến lúc Phật nhập diệt, Ngài đi như thế, từ xứ này sang xứ khác tung vãi giống Từ bi và gieo mầm đức hạnh ra cùng xứ Ấn Ðộ bao la. Và trong bốn mươi lăm năm trời ấy, không một năm nào Ngài không theo đúng những ý định của Ngài trong việc truyền giáo.
Từ tháng tư Ấn Độ, mây dày bắt đầu đổ thành mưa nặng, gió điên cuồng sổ chạy dưới rừng sâu, cây cối gãy ngã, đường sá bị nước xoi thành suối thành hồ, sự giao thông từ xứ này sang xứ khác bị cắt ra từng đoạn trên đường rừng lở lói hoang vu... Trong ba tháng mưa lụt ấy, Ngài không đi thuyết pháp xa. Ngài lựa một tịnh xá nào gần để làm chỗ nghỉ chân cùng các đệ tử.
Mỗi ngày, khi chưa tảng sáng, Ngài đã lìa khỏi giường đi súc miệng, rửa mặt, thay y phục, rồi vào quán tưởng trong tịnh thất. Ngài dùng ánh sáng trí tuệ của Ngài chiếu cùng vũ trụ xem xét khắp nơi, rồi lại soi đến căn cơ chúng sanh, nhận biết hạng nào có thể nghe được và hạng nào chưa có thể nghe được Chân lý thâm diệu của đạo Ngài. Quán tưởng xong, Ngài hội đệ tử lại, giảng cho họ nghe một hồi, rồi dạy họ phải suy nghiệm đến những điều Ngài đã giảng trong ngày ấy. Mặt trời sắp đứng bóng Ngài mới thọ trai.
Trong lúc ấy, trên các đường đi đến tịnh xá, từ thôn xóm xa cho đến phố phường gần, dân gian lũ lượt đến đợi Ngài thuyết pháp. Sau khi đã lãnh thọ những lời châu ngọc, họ lại tản mác ra về, trong tai còn vang dội Pháp âm của đấng Toàn thiện.
Buổi chiều, tắm rửa xong, Ngài hội các tỷ kheo lại một lần nữa để giải thích tường tận những lời thuyết pháp buổi sáng mà họ chưa nhận rõ hết. Trời sẩm tối Ngài mới thôi giảng.
Ngài sống mỗi năm ba tháng trong tịnh xá như thế, đợi đến hết mùa mưa lụt để đi thuyết pháp.
Khi nắng thu hiền lành bắt đầu trở lại, các đệ tử được lệnh truyền sửa soạn hành lý ra đi. Ý Ngài dự định sẽ đi về ngả nào thì chẳng mấy chốc đã lan từ làng này sang làng khác, chạy khắp cả xứ Ấn Ðộ như một làn gió xuân. Thế là dân gian tấp nập mang xẻng cuốc ra sửa lại những đoạn đường hư nát mà Ngài sẽ đi qua. Họ lấp những đoạn bị nước xoáy, san phắng những đoạn gồ ghề, phát dọn những nhành cây hoang bổ ra đường. Và những xứ Ngài không đi ngang, dân gian khoá cửa lại, mang khăn gói lên đường đi về phía những xứ Ngài sẽ đến thuyết pháp.
Hành lý sửa soạn xong, Ngài chưa đi vội, đấng Từ bi còn đợi năm ba ngày cho những loài sâu bọ thấy nắng về, rời khỏi tổ chúng đã làm giữa đường, hoặc dưới cỏ rác trong mấy tháng mưa, để những bước chân Ngài và các đệ tử khỏi dẫm phải chúng. Vì đoàn đi theo Ngài không ít, sự dẫm nát có thể nhiều lắm nếu không phòng ngừa trước.
Khi mới ra đi thì chỉ vài trăm đệ tử, nhưng càng đi đám người tín mộ xin theo càng nhiều. Ðường hẹp không đủ chứa dòng người tin tưởng kia, họ đi lan ra cả hai bên đường tản mác dưới bóng rừng sâu. Ðêm đến, họ ngủ trong những nhà lá dựng lên với lòng thành kính của dân địa phương đối với đấng Tế độ. Nơi nào không có nhà, họ ngủ dưới những cây xoài sai trái, ngước mắt nhìn bầu trời yên tĩnh của dêm sao. Trong ấy họ thấy phản chiếu sự yên tĩnh của lòng họ bên cạnh lòng Từ bi.

Gần nửa thế kỷ như thế, hết xứ này đến xứ nọ, bánh xe Pháp của Ngài in dấu thiện khắp nơi. Từ Bắc chí Nam, từ Ðông sang Tây, tất cả xứ Ấn Ðộ rộng lớn, không thiếu một nơi nào Ngài không để chân đến. Và đến đâu, Ngài cũng được dân gian đổ xô ra đón rước. Họ sung sướng được xúm xít quanh Ngài như đàn con xúm quanh mẹ ở xa về. Hễ Ngài để chân vào thành nào, là ở đấy sáng rực lên một ánh sáng lạ; và mắt mọi người, từ đứa bé mới lọt lòng mẹ cho đến kẻ sắp xuống mồ long lanh đôi niềm hy vọng, trướe sự kết đọng của Từ bi và Trí tuệ.
Nhưng một hôm, ở tại thành Ba-la-nại, đức Phật đang ngồi trong tịnh xá Trúc Lâm bỗng thấy các đệ tử đi khất thực về có vẻ buồn rầu. Phật hỏi nguyên nhân. Họ quỳ xuống bạch:
– Thưa Thế Tôn, mấy ngày nay chúng con không được dân trong thành trọng đãi như trước nữa, trái lại họ còn xua đuổi mạt sát chúng con. Hình như có một bọn nào bảo họ rằng: "Ðạo của Thế Tôn không chính đáng vì đã làm cho vợ xa chồng, cha xa con, gia đình tan rã." Và họ bắt giảng rõ tại sao phải có sự chia lìa như thế.
Phật dạy:
– Các ngươi hãy nghe đây! Xưa ở xứ Mitila có một ông vua tên Ða-nép-ca. Một hôm vua cùng đình thần đi dạo chơi ở ngoài thành, thấy hai cây xoài mọc cạnh nhau, nhưng một cây rất sai trái, và một cây cằn cỗi. Vua đến bên cây sai trái, hái một quả. Cáe quan hầu thấy thế, cũng bắt chước hái theo. Khi đi về, nhìn lại cây xoài mình đã hái, vua thấy không còn một trái nào cả, và bị gãy nát tơi bời, Ngài nghĩ: "Như thế đấy! Của quý ở đời là những mồi ngon để dục vọng xâu xé! Ngai vàng của ta đã tẩm biết bao nhiêu máu đế vương và còn tẩm máu mãi mãi, vì nó là một ngai vàng! Ta phải đi tìm những của quý mà không ai có thể cướp giật được."
Ðêm ấy, vua cải trang trốn ra khỏi thành, định vào rừng làm một kẻ tu ẩn dật. Nhưng hoàng hậu hay tin, vội đi tìm gặp lại chồng giữa đường. Ða-nép-ca không biết tính sao đành phải để vợ theo. Một hôm di đến thành phố kia, vua dừng bước lại trước một hiệu làm cung, hỏi người thợ mộc:
– Tại sao, để xem thử chiếc tên người đang bào có thẳng hay không, người phải nheo bớt một mắt?
– Bởi vì, người thợ mộc trả lời, bởi vì con mắt này thường phản trái con mắt kia và làm ta không nhận rõ những chỗ cong của chiếc tên. Còn người, sao đã làm một kẻ xuất gia cầu đạo, đã nguyện lìa bỏ tất cả đời phồn hoa, người lại đem theo bên mình một người đàn bà nữa thế? Người đàn bà đẹp đẽ đi bên cạnh người là con mắt thứ hai, không cho người nhận rõ đường thẳng để đi đến cõi thiện đấy.
Ða-nép-ca nghe xong, đi một mạch đến đầu rừng, đứng lại bẻ một nhành cây, đưa trước mặt vợ mà thề rằng: "Như nhành cây này không bao giờ còn có thể liền lại với thân cây, ta với người từ đây sẽ xa nhau mãi mãi." Nói xong Ða-nép-ca chạy biến vào rừng.
Cái ý nghĩa xa đàn bà, bỏ gia đình là thế. Nhưng ta có bắt tất cả mọi người đều phải xa gia đình đâu? Có người tu tại gia, mà cũng có người xuất gia. Có khác nhau là, người xuất gia thì việc tu hành sẽ thuận tiện hơn người tại gia mà thôi. Vả lại trong lúc Ðạo ta mới thành lập, tất cần nhiều đệ tử xuất gia để truyền giáo; và sau này, khi ta nháp diệt, cũng cần nhiều Tăng đồ để giữ gìn Chánh pháp. Các người không nên để tâm đến những lời mắng nhiếc của hạng người si mê. Các người hãy gắng thực hành cho đúng như những câu trả lời của ông Biệt-na, khi sắp rời ta đề di sang truyền giáo ở xứ Ro-na-ba-răn-ta. Một hôm ta hỏi ông:
– Dân xứ Ro-na-ba-răn-ta có tiếng là hung ác nếu ông sang truyền giáo ở bên ấy mà bị họ mắng nhiếc, chửi rủa, thì ông đối phó cách nào?
Ông trả lời:
– Thưa Thế Tôn, nếu những người ở xứ ấy chửi rủa mắng nhiếc con, con sẽ tự bảo: "Họ đang còn hiền, vì họ chỉ nguyền rủa con, chứ không lấy tay đánh con, hay lấy đá ném vào con."
Ta lại hỏi:
– Thế họ lấy tay đánh ông hay lấy đá ném ông?
– Thưa Thế Tôn, con sẽ tự bảo: "Họ còn thương con vì họ không dùng gươm để đâm con."
– Nếu họ dùng gươm để đâm ông?
– Thưa Thế Tôn, con sẽ tự bảo: "Họ còn tốt, vì họ không đâm con đến chết."
– Nếu họ đâm ông đến chết?
– Thưa Thế Tôn, con vẫn cảm ơn họ, vì họ sẽ giải cho con thoát cái thân đau khổ.
Hỡi các tỷ kheo. Biệt-na đã trả lời ta như thế đấy! Các người hãy lấy hạnh nhẫn nhục làm gương.

***

Tám mươi mùa xuân đã qua từ ngày Phật xuất thế dưới cây Vô ưu. Bấy giờ Ngài vào hạ ở rừng Sa-la trong xứ Câu-ly cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Một hôm, Ngài phán bảo ông A-nan:
– A-nan! Ðạo ta nay đã toàn vẹn. Như xưa ta đã nguyện, nay ta đã đủ bốn hạng: ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni và nhiều đệ tử có thể thay ta chuyển xe Pháp. Còn trong dân gian, Ðạo ta truyền khắp nơi. Bây giờ ta có thể rời các người mà ra đi. Vả nay ta cũng đã 80 tuổi rồi. Thân hình ta bây giờ như một cỗ xe đã mòn rã, nếu còn đi được là nhờ những sợi dây ràng rịt các bộ phận với nhau. Ta sẽ mở dây cho chúng tan rã. Thân này ta đã mượn làm xe để chở Pháp, nay xe cũng vừa mòn mà Pháp cũng đã lan khắp, ta còn nấn ná làm gì trong cái thân tiều tuy này nữa? A-nan, trong ba tháng nữa, ta sẽ nhập Nỉết-bàn.
Nghe Phật dạy, ông A-nan gieo năm vóc xuống đất, bạch:
– Thưa Thế Tôn, Ngài thường dạy rằng ai đã giác ngộ thì không thể mất đi được. Nay Thế Tôn là một bậe toàn trí, toàn năng, sao lại còn phải chịu cái luật tầm thường như thế?
Phật nghiêm nét mặt lại hỏi:
– A-nan! Người bảo cái gì mất mà cái gì còn ? Sao người không nhận được cái gì chơn mà cái gì giả cái gì tồn tại mà cái gì tiêu huỷ? Ta đã nhiều lần dạy rằng đã có đến thì có đi, có hiệp thì có tan có sanh thì có diệt. A-nan, thân ta không khác thân mọi người; mà thân mọi người làm sao thoát ra ngoài luật vô thường được? Thân ta là giả hiệp, nó phải tan rã. Nhưng A-nan! Làm sao người thấy một làn sóng tan, người lại bảo nước không còn nữa?
Ông A-nan cũng biết như thế lắm. Nhưng ý nghĩ trong ba tháng nữa, Phật sẽ không còn tại thế để chỉ dạy cho chúng sanh, làm ông bồn chồn tâm trí. Ông đánh bạo nài xin Phật ở lại một lần nữa:
– Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy ớ nán lại vì rất nhiều đệ tử còn phải nhờ đến sự chỉ giáo của Thế Tôn để chứng đạo.
– A-nan ơi! Chính vì muốn để cho họ mau chứng đạo mà ta lẫn đi. Nếu chửn mẹ cứ mớm mồi mãi cho con, thì đến bao giờ chim con mới bay được? Gần nửa thế kỷ, họ quanh quẩn bên chân ta, bây giờ phải đến lúc họ rời ta để tự bước tới như đứa trẻ mới tập đi, phải có một lúc rời tay mẹ.
Tin Phật sắp vào Niết-bàn lan dần như một hơi gió thoát từ hang lạnh. Các đệ tử, đàn cừu tản mác trên cánh đồng ấn Ðộ, lục tục kéo nhau về để cùng đấng Dẫn Ðường chia ly lần cuối.
Trong mấy tháng ấy tuy thân hình Ngài đã gầy còm, mệt mỏi, Phật vẫn đi truyền giáo như thường. Nhưng Ngài không đi xa, chỉ quanh quẩn trong địa hạt xứ Câu-ly. ông A-nan thường xin Ngài hãy tịnh dưỡng trong những ngày cuối cùng của Ngài. Nhưng Ngài khoát đi mà dạy:
– Thân ta tuy có kém mạnh khoẻ, nhưng lòng Từ bi của ta, Trí sáng suốt của ta có kém sút đâu? Ta còn tại thế ngày nào thì ngày ấy phải là ngày không vô ích.

Một hôm, Phật đi thuyết pháp ngang một khu rừng, có một người tên là Thuần-đà, làm nghề đốt than đến quỳ trước Phật:
– Kính lạy Ngài, ở đây làng mạc không có, mà trời sắp đứng trưa, xin Ngài hãy về nhà con ở gần đây thọ trai rồi hãy đi. Con nghe Ngài qua đây nên đã đi hái một thứ nấm rất quý để dâng Ngài, xin Ngài đừng từ chối mà tủi nhục lòng con.
Phật im lặng cùng các đệ tử đi theo ông Thuần-đà. Ðến nhà, những thức ngon vị lạ đã dọn la liệt trên bàn dài, ông Thuần-đà lại bưng lên để trước mặt Phật một bát nấm, hơi lên nghi ngút.
Phật thọ trai xong, phán với các đệ tử:
– Bát nấm này độc, các ngươi hãy đem đổ đi không nên ăn.
Ông Thuần-đà kinh hãi, vật mình lăn khóc bên chân Phật. Phật dạy: "Người không nên than khóe, cũng đừng hối hận. Phải vui sướng lên, vì người đã được cúng dường bữa cơm cuối cùng cho ta. Có hai bữa ăn đáng kỷ niệm nhất, lần đầu là của nàng Tu-xà-đa cúng dường ta trước khi ta thành Ðạo và bữa cơm này, trước khi ta vào Niết bàn."
Phật từ giã ông Thuần-đà, cùng các đệ tử ra đi Ðược một đỗi đường, Ngài nghe trong mình khó ở Phật đưa bình bát và chiếc võng cho A-nan:
– A-nan ! Hãy mang bình bát dùm ta và tìm hai cây Sa-la ở trên đồi kia, treo võng lên cho ta nằm nghỉ.
Trời chiều. Chúa sáng rút ánh nắng vàng ở phương Ðông, dồn về phương Tây. Chim bay về tổ cũ. Vài tiếng mẹ gọi con đồng vọng từ một làng xa. Trên đường rừng tịch mịch chiều hôm, lẻ tẻ rơi từng tiếng chân chậm chạp.
Phật đến bên cây Sa-la, nằm xuống võng. Ðầu Ngài trở về hướng Bắc, mình nghiêng về tay phải, hai chân tréo vào nhau. Trước mặt đấng Sáng suốt chói lọi một mặt trời tròn xoe và đỏ rực. Hoa trắng lác đác rơi dọc theo mình Ngài trên thảm cỏ xanh. Hương ở đâu bay lại, thơm ngát cả khu rừng. Ðàn khe và sáo gió, cùng nhau hoà một điệu nhạc, phò Ngài vào trong Yên nghỉ.
Nhưng đấng Từ bi chưa đi vội. Ngài sai một Tỷ kheo đi báo tin Ngài sắp nhập diệt cho các đệ tử khác và dân chúng ở rải rác trong thành Tư- xá vệ hay.

Trong số các người đến kính viếng, có một ông già thuộc phái Bà-la-môn, tên Tu-bạt-đà-la đến xin ông A-nan cho được đến gần Ngài hỏi đạo. Ông A-nan không cho, bảo rằng Ngài đang mệt. Nhưng Tu-bạt-đà-la cứ nài nỉ xin vào. Lời qua tiếng lại, Phật nghe được, liền bảo ông A-nan cứ để cho vào. Tu-bạt-dà-la đến sụp lạy bên chân Phật, thưa :
– Lạy đấng Sáng suốt, con thường nghe đạo Ngài rất thâm diệu, nhưng con cũng thường nghe bọn ngoại đạo bảo chỉ có đạo của họ là hợp chân lý. Như thế thì con biết tin theo ai?
Phật dịu dàng dạy:
– Người đừng tin theo ai cả. Người chỉ nên theo lý trí của người. Người hãy đem thuyết "Bát chánh đạo" của ta chẳng hạn, so sánh với những thuyết của ngoại đạo, rồi người sẽ biết nên tin bên nào mà bỏ bên nào.
Ông Tu-bạt-đà-la sụp xuống ôm chân Phật, khóc kể:
– Ôi rộng rãi thay lời nói của đấng Từ bi! Con chưa từng nghe một đấng truyền giáo nào dạy như Ngài! Nhưng ôi! Con đến quá chậm, Ngài sắp nhập diệt rồi, con biết nhờ ai để tu tập?
Phật để tay lên đầu ông, dạy:
– Người hãy yên tâm. Ta sẽ độ cho người. Còn sự tu tập sẽ có các đệ tử ta chỉ giáo cho.
Ông Tu-bạt-đà-la là người cuối cùng được đấng Từ bi nhận làm đệ tử khi Ngài còn tại thế.
Các đệ tử những bậc vua chúa và dân gian đến mỗi lúc mỗi đông. Họ kính cẩn cúi đầu đứng quanh Ngài. Nhưng bỗng giữa bầu không khí im lặng, nấc lên vài tiếng khóc. Phật dạy:
– Ðừng ai thương tiếc ta như thế! Hãy bình tĩnh trong buổi chia ly này! Các người ơi! Các người còn nhớ những lời ta dạy chăng ? Ta thường bảo thân thể bao giờ cũng tan rã, những vật người đời yêu thương, gìn giữ tất rồi có ngày phải chia cách. Làm sao trên thế giới chuyển di, lại có vật không thay đổi? Ai tìm thấy lại được hình dáng đã vẽ trên mặt nước?
Hỡi các tỷ kheo! Ở đây các người là hạng được nghe rất nhiều giáo pháp của ta, các người phải chứng tỏ sự hiểu biết của các người bằng những cử chỉ, nhất là giữa lúc này. Bao lâu nay các người rất gần gũi với ta, trong hành động cũng như trong ý tưởng, vậy bây giờ không nên vì tình cảm hẹp hòi của các người trong một lúc mà trở thành xa lạ với ta.
Ðừng ai thương tiếc ta như thế!
Ngài gọi ông A-nan lại gần Ngài, đề tay lên đầu ông, vỗ về:
– A-nan ơi! Trong các đệ tử, ông là người luôn luôn ở bên cạnh ta, và giúp đỡ ta nhiều nhất, ông là đệ tử rất xứng đáng với ta. Trong việc truyền giáo, công đức của ông không phải nhỏ. Vậy trước khi nhập diệt, ta có lời cảm ơn ông. Từ đây trên đường đi truyền giáo, bước chân ta không còn vang dội bên bước chân ông nữa, nhưng đừng vì thế mà buồn; chúng ta dù có xa nhau cũng chỉ ở hình dáng chứ còn tâm ta vẫn hoà nhịp với tâm ông trong cái đạo rộng lớn. Ông hãy tu tập để nhận rõ chân tâm, rồi sẽ gặp ta ở mọi chỗ. Thôi ông hãy đứng dậy!
Phật nhìn ra, hỏi đại chúng:
– Ở đây có ai không hiểu hay còn nghi ngờ điều gì về giáo lý của ta thì cứ hỏi, ta sẽ trả lời. Ðừng để khi ta nhập diệt rồi lại ân hận là không còn ai để giảng giải.
Mọi ngườỉ đều im lặng nhìn nhau. Phật lại bảo:
– Nếu các người vì sợ làm mệt ta, hay vì nể ta mà không dám hỏi thẳng thì hãy bàn bạc cùng nhau, khi nào không thể giải quyết được, ta sẽ giúp cho.
Nhưng đại chúng vẫn im lặng. Ông A-nan bạch:
– Kính bạch Như Lai! Ðạo Ngài sáng tỏ như mặt trời. Những lời Ngài dạy cặn kẽ từng gang tấc! Những điều đáng nói, Ngài đã dạy cho hết cả rồi chúng con không còn điều gì nghi ngại nữa. Duy, chúng con xin Ngài dạy cho biết sau khi Ngài nhập diệt rồi, chúng con phải làm những lễ nghi gì để cho xứng với thi hài của một đức Phật?
Phật dạy:
– "Các người đừng bận tâm đến việe ấy. Các người hãy chuyên tâm đến sự giải thoát của các người. Đấy là một cách sùng bái ta.
Hỡi những ai vì hoàn cảnh mà không thể xuất gia, các người hãy luôn luôn nhớ đến đạo ta! Phải tinh tấn mãi mãi để thoát ra khỏi lưới dục vọng mà chứng Ðạo!
Này, các người phải tự thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Các người hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát! Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác! Ðừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác!
Các người làm như thế là biết ơn ta, là nhớ tưởng đến ta. Và hỡi các Tỷ kheo! Các người có thêm một bổn phận là truyền đạo ta, thay ta để đưa đường chỉ lối cho mọi người. Các người phải tìm hiểu đến cùng tột những nghĩa lý sâu xa, mầu nhiệm của giáo pháp ta để làm lợi lạc cho chúng sanh! Các người phải luôn luôn vượt lên những trở lực để mãi mãi truyền thừa Ðạo ta cho đến vô cùng tận.
Nếu các người để cho đạo Giải thoát của ta suy tàn, ấy là các người mất ta, và các người sẽ làm mất các người!
Nếu các người vẫn trung thành với những lời dạy của ta, ấy là các người nhớ ơn ta, ấy là các người tôn sùng ta. Nếu các người làm cho đạo Từ bi của ta mỗi ngày một thịnh mãn, ấy là các người gần ta, và ta sẽ luôn ở bên cạnh các người.
Này các Tỷ kheo! Các người đừng nghe dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quý báu. Chỉ có chân lý của Ðạo ta là bất di bất dịch.
Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!"

Ngài nhập định, rồi vào Niết-bàn.
Sao mai vừa mọc. Nhưng trời đất bỗng tối tăm, mọi vật lặng yên. Sự sống ngừng lại. Chìm lặng, chìm lặng khắp nơi.
Nhưng lập loè xa xa một ánh sáng. Rồi hai, rồi ba, rồi năm, rồi mười, rồi một trăm, một ngàn, một vạn, ôi! rồi hằng sa ánh sáng của những ngọn đuốc soi đường cho những tín đồ đến chậm, chiếu sáng rực cả khu rừng, cả vòm trời, cả tám hướng, mười phương...
Và trong đêm lặng lẽ trời khuya, nổi lên, nổi lên dần, rồi ngân cao, ngân cao lên mãi, lời tụng kinh nồng đượm tín thành của từng ngàn đệ tử, phụ hoạ theo với từng vạn tín đồ. Lời tụng kinh nồng đượm tín thành vượt lên mấy từng trời, phò đấng Từ bi vào Niết-bàn huyền diệu...
Và từ đấy cứ lan dần, lan dần ra mãi...



Viết xong ngày 15 tháng 3 năm 1945 tại Huế.

TÔI QUAN NIỆM NHƯ THẾ NÀO
VỀ CUỘC ÐỜI CỦA
ÐỨC PHẬT THÍCH CA
KHI VIẾT ÁNH ÐẠO VÀNG

Thay lời bạt
(Phần này đã được viết và in vào ánh Ðạo Vàng trong lần ấn hành thứ 12 năm 1990)

Quyển ánh Ðạo Vàng đã được trích đăng dần trên Tập Văn của Ban Văn hoá Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong quá trình trích đăng qua 5 Tập Văn gần hai năm, có một số bạn đọc đã gởi thơ hỏi tôi có sửa đổi thêm bớt gì không khi đăng lại lần này. Có bạn lại cả quyết rằng tôi đã có sửa lại, thậm chí đã viết lại ánh Ðạo Vàng và khen là lần này tôi viết hay hơn trước. Thật ra tôi không sửa đổi gì, ngoài một số chữ về chính tả mà các lần xuất bản trước đã in sai, và thứ tự các chương có đảo lộn để cho thích hợp với nội dung của mỗi Tập Văn. Chẳng hạn như Tập Văn 1, xuất bản vào dịp lễ Thành Ðạo PL. 2528, thì tôi trích đăng các chương viết về sự Tìm Ðạo và Chứng Quả của đức Phật; qua lễ Phật Ðản sanh PL. 2529, thì trích đăng các chương viết về sự ra đời và thời niên thiếu của Ngài. Và mỗi kỳ trích đăng như vậy, tôi không chia thành từng chương riêng và không ghi số thứ tự của mỗi chương như trong cuốn ánh Ðạo Vàng đã xuất bản lâu nay, mà đăng luôn một mạch, chương này tiếp liền chương khác. Có lẽ vì vậy mà các bạn đọc đã có cảm tưởng như tôi có sửa đổi thêm bớt chăng?
Không sửa đổi thêm bớt, không có nghĩa là cuốn ánh Ðạo Vàng đã hoàn chỉnh. Một cuốn sách đã viết từ gần 45 năm trước, đem so sánh với thời đại hôm nay mà văn chương nghệ thuật nước nhà đã có những bước tiến dài, chắc chắn sẽ lộ rõ những vụng về, thiếu sót, dư thừa. Nhưng tôi không muốn gọt dũa nó lại, vì tôi nghĩ dù sao nó cũng đã mang dấu ấn của một giai đoạn viết lách của đời mình, cái dấu ấn tư duy của một lớp thanh niên trí thức Phật tử trong ấy có tôi, trước thế chiến thứ hai. Lớp thanh niên ấy phải kể trước tiên là những anh em trong đoàn "Thanh niên Phật học Ðức Dục" (mà hiện nay có người đã trở thành Hoà thượng, nhiều người là cán bộ, Ðảng viên Cộng sản, hay đã đi ra nước ngoài, nhưng mỗi khi ngồi lại với nhau chúng tôi vẫn dễ đồng ý, thông cảm với nhau trên nhiều vấn đề), những anh em trong đoàn Thanh niên Phật tử. Gia đình Phật hoá phổ, học sinh trường Khải Ðịnh, trường Ðồng Khánh ở Huế, quê hương của tôi. Chính lớp thanh niên ấy đã thúc đẩy, khuyến khích tôi viết Ánh Ðạo Vàng. Và khi viết, tôi nhắm đối tượng độc giả chính là lớp thanh niên ấy. Mỗi khi viết xong một chương, tôi đem đọc cho anh em đoàn Thanh niên Phật học Ðức Dục nghe và góp ý. Tôi nhớ chương đầu tiên tôi viết là chương Thái tử Tất-đạt-đa trong đêm khuya trốn ra khỏi "Cung Vui", xa lìa gia đình để đi tìm đạo. Tôi viết đoạn này trước, vì tính bi hùng tráng của nó đã thu hút tôi mãnh liệt. Anh em trong đoàn gợi ý cho tôi nên đăng trước vào tạp chí Viên âm xuất bản tại Huế, mỗi tháng một kỳ do cố bác sĩ Lê Đình Thám, một học giả uyên thâm về Phật học làm chủ bút. Ðăng được mấy số thì một hôm, cụ Thám đưa cho tôi xem bức thơ của một vị Hoà thượng ở Hà Nội gởi vào phản đối kịch liệt những bài viết của tôi đăng trên tạp chí Viên âm. Vị này cho rằng tôi phỉ báng đức Phật Thích-ca, đã dung tục hoá Ngài, viết về Ngài mà như về một người tầm thường nào, cũng yêu đương bi lụy "anh anh, em em", sống một đời sống xa hoa trác táng v.v... và v.v... Và cuối cùng, tác giả bức thư yêu cầu Ban Biên Tập Viên âm không được tiếp tục đăng Ánh Ðạo Vàng nữa. Tôi đọc xong bức thư, trao lại cho cụ Thám và hỏi:
– Bác tính sao? Có đăng tiếp không?
Cụ Thám nở một nụ cười hiền lành như mọi ngày, nhưng trả lời rất cương quyết:
– Anh cứ tiếp tục đăng đi. Các cụ già rồi sẽ qua đời. Anh có thanh niên. Họ không phản đối anh là được.
Lớp thanh niên ấy bấy giờ cũng đã, hay sắp trở thành cụ già cả rồi. Và họ vẫn không phản đối tôi về cách trình bày cuộc đời của đức Phật Thích-ca trong Ánh Ðạo Vàng. Do đó tôi nghiệm ra rằng: không phải hễ già thì phản đôi mà trẻ thì thích Ánh Ðạo Vàng. Bằng chứng là trên 40 năm trước cũng có những cụ già thích đọc Ánh Ðạo Vàng, và bây giờ cũng rất có thể có những thanh niên không thích đọc nó. Thích hay không thích, phản đối hay tán thành, tôi nghĩ không phải do tuổi tác, mà do quan niệm của người đọc về sự xuất hiện của đức Phật Thích-ca trong cõi đời này, về nguồn gốc của Ngài. Nếu họ cho rằng Ngài là một Thiên sứ, một người của nhà Trời sai xuống để dẫn dất chúng sanh, thì chắc chắn họ sẽ phản đối tôi, vì tôi đã bỏ mất những huyền thoại như: Hoàng hậu Ma-gia đã sinh Thái tử Tất-đạt-đa từ hông phải của bà, và Thái tử khi mới lọt lòng mẹ, đã đứng dậy đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà tuyên bố: "Trên trời, dưới trời, chỉ có Ta là đấng tôn kính nhất." Tuyên bố xong, Thái tử mới nằm xuống và trở thành một hài nhi như bao nhiêu hài nhi khác ở trên đời này!
Nhưng có một số chi tiết thuộc loại huyền thoại, tôi còn giữ lại, vì thấy chúng không làm hại gì cho nội dung tác phẩm, mà lại phù hợp với tâm lý người thời ấy, như chuyện Hoàng hậu Ma-gia khi thụ thai, "nằm mộng thấy một con bạch tượng sáu ngà đứng trên một ngôi sao, có sáu sắc chói ngời, vượt qua trời cao và luồn vào hông phải Hoàng hậu" (Ánh Ðạo Vàng). Ðây chỉ là một giấc mộng. Và một Hoàng hậu, sống trong bối cảnh đầy rẫy thần thánh của Bà-la-môn giáo, đang mơ ước có một hoàng tử anh linh xuất chúng, nên nằm mộng thấy như vậy, cũng không phải là chuyện không thể chấp nhận được. Hay trong câu chuyện của ông già kể lại cho đạo sĩ A-tư-đà nghe về đám rước đón Hoàng hậu Ma-gia và Thái tử sơ sanh từ vườn Lâm-tỳ-ni về hoàng cung thành Ca- tỳ la-vệ, có câu: "Trong đám rước người ta bảo có lẫn lộn những thiên thần giả người trần tục, vì đây không phải là cái vui riêng của cõi thể mà chính là cái vui chung cho cả mấy tầng trời" (Ánh Ðạo Vàng).
Ông già kể là: "Người ta bảo... (mà có lẽ ông ta cũng tin như vậy) là trong đám rước có những thiên thân giả người trần tục" thì ai mà nhận ra? Chỉ có tin hay không tin thôi. Trước đây 25 thế kỷ, xã hội Ấn Ðộ chịu ảnh hưởng sâu xa của Bà-la-môn giáo, có nhiều người tin như vậy, cũng không có gì là lạ. Lạ chăng là trong thế giới khoa học ngày nay vẫn có người tin rằng Thánh, Thần, Người, Trời đang sống chung lộn với nhau. Cái tâm lý ấy có ảnh hưởng sâu xa đến một số các nhà viết về lịch sử đức Phật trong quá khứ, và cả trong ngày nay. Họ đã thần thánh hoá Ngài, xem Ngài như một Thiên sứ, Thiên thần từ cõi Trời giáng xuống và mọi sự việc trong đời Ngài đã được an bài từ trời cao. Trong khi ấy thì đức Thích-ca đã tuyên bố một cách dứt khoát với nàng Tu-xà-đa, khi nàng tưởng Ngài là một Thần núi đã phù hộ cho nàng sanh con trai, nên đến cúng dường Ngài để tạ ơn: "... Ta không phải là một vị thần nào cả. Ta chỉ là một người như mọi người khác. Xưa kia Ta là một Thái tử. Bây giờ Ta chỉ là một kẻ không nhà, ròng rã sáu năm trời đi tìm ánh đạo để soi sáng cho chúng sanh..." (Ánh Ðạo Vàng).
Có lẽ những sử gia nói trên nghĩ rằng phải thiêng liêng hoá Ngài, gắn cho Ngài cái nguồn gốc của nhà Trời hay một thế lực huyền bí nào, thì người đời mới tôn kính, sùng bái Ngài, nhưng thật ra là đã làm giảm giá trị đích thựe của Ngài. Ðức Phật đâu có muốn như vậy, Ngài bài bác cái ý thức về một Thượng đế sáng tạo, an bài mọi sự việc trong trời đất. Ngài đề cao địa vị của con người, bảo rằng đó là địa vị có đủ thuận duyên để cho con người tiến xa nhất.
Và Ngài đã lấy chính cuộc đời mình ra để chứng minh điều đó. Ngài cũng đã trải qua mọi giai đoạn sanh, lão, bệnh, tử như mọi người. Ngài cũng có cha mẹ, vợ con, bạn bè thân thích như mọi người. Ngài cũng đã có lúc đắm chìm trong xa hoa truỵ lạc của một cuộc sống đế vương khác. Có khác chăng là Ngài đã thoát ra khỏi cuộc sống dục lạc ấy trong khi các đế vương khác đã chết chìm trong ấy. Và cuộc thoát ly này không do một động lực nào từ bên ngoài, "bên trên" thúc đẩy hỗ trợ, mà chính là do lý trí và tình thương rộng lớn của Ngài thúc đẩy Ngài. Cuộc trốn thoát khỏi "ngục vàng" giữa đêm khuya ấy, tuy không có một ai hay biết, ngoài Xa-nặc, người giữ ngựa, để cản ngăn Ngài, nhưng không phải đã diễn ra một cách trót lọt dễ dàng. Ngài đã chiến đấu rất quyết liệt với chính mình, với tình yêu thương đối với cha già, vợ trẻ, con thơ, với bạn bè, người hầu hạ, đã bao năm chung sống với mình.
"Ngài quỳ một chân, cúi đầu xuống để trán lên giường. Công chúa đang thiêm thiếp ngủ, trên đôi mi cong dài còn đọng lại hai viên lệ ngọc. Ngài từ từ đứng dậy, cung kính đi quanh giường ba vòng, hai tay chắp ngang ngực, miệng lẩm bẩm: "Từ nay không bao giờ ta còn nằm trên giường này nữa. Ba lần Ngài bước ra, ba lần Ngài trở lại. Lần sau cùng, với vẻ cương quyết, Ngài phủ vạt áo lên đầu, vén rèm bước ra" (Ánh Ðạo Vàng).
Có lẽ những đoạn văn như vậy đã làm cho tác giả bức thư mà tôi đã nói ở trên phản đối, cho rằng tôi đã "uỷ mị hoá" đức Phật, làm mất cả những đức tánh đại hùng, đại lực, đại từ bi của một vị Phật. Nhưng tôi nghĩ, trước khi thành Phật, Thái tử Tất-đạt-đa vẫn là một "con người"–tất nhiên không tầm thường như chúng ta–nhưng vẫn là một con người có lý trí và tình cảm, cũng thương yêu gia đình như chúng ta, nhưng không vì tình yêu gia đình mà quên tình yêu đồng bào, đồng loại, trái lại đã rộng mở tình yêu gia đình nhỏ hẹp, để nó hoà nhập vào tình yêu rộng lớn đối với nhân loại, chúng sanh, như khai thông dòng nước của sông ngòi để nó hoà nhập vào biển cả. Nếu Thái tử Tất-đạt-đa khi ra đi mà vẫn "phớt tỉnh", không chút bận lòng đối với người thân trong gia đình, thì đó mới là một chuyện không bình thường, làm chúng ta đánh một dấu hỏi lớn: "Nếu không yêu thương những người thân thiết trong gia đình, thì làm sao yêu thương được đồng bào, đồng loại?" Cái đại hùng, đại lực, đại từ bi của Thái tử Tất-đạt-đa chính là đã thoát ra khỏi cái bả vinh hoa phú quý, đã chiến thắng được tình yêu nhỏ bé nhưng mãnh liệt của gia đình, buộc nó phải hy sinh cho một tình yêu rộng lớn hơn, cho một lý tưởng cao cả hơn: lý tưởng cứu đời. Chúng ta hãy nghe Ngài nói: "Hỡi nhân loại đang quằn quại đau thương, hỡi cõi đời sầu khổ! Vì các người mà ta bỏ tuổi măng tơ, bỏ ngôi báu, bỏ những ngày vàng và đêm ngọc, gỡ cánh tay bám víu cửa người vợ hiền, cắt ngang tình yêu mãnh liệt của Phụ vương và xa lánh đứa con thơ đang nằm trong bụng mẹ. Hỡi Phụ hoàng, hiền thê, bào nhi và xã tắc! Xin hãy gắng chịu đựng sự chia ly cho đến ngày tôi tìm ra Ðạo." (Ánh Đạo Vàng).

Thoát khỏi "ngục vàng", Thái tử Tất-đạt-đa đi vào rừng sâu, tìm thầy học đạo, Ngài tu "theo lối khổ hạnh." Trước kia trong "Cung Vui", Ngài cung dưỡng thân xác bao nhiêu, thì giờ đây Ngài lại hành hạ nó bấy nhiêu, Ngài đã nhịn đói, nhịn khát nằm gai, nếm mật, hành hạ thân xác cho đến kiệt quệ. Hãy nghe Ngài kể lại: "Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta đã trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống của Ta phô bày giống như một chuỗi hạt bóng. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn của Ta gầy mòn giống như rui mè của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu trong một giếng nước thâm sâu..." (Trung Bộ Kinh I, tr. 80).
Thế rồi một hôm, một đoàn ca vũ đi làm lễ ngang qua khu rừng Ngài tu. Ngài nghe văng vẳng tiếng hát của mấy ca nhi đưa lại:
"Lên cho chúng tôi một dây đàn đừng quá caọ cũng đừng quá thấp, chúng tôi sẽ nhảy theo tiếng đàn và tim mọi người sẽ nhảy theo với chân chúng tôi.
Dây đàn quá căng sẽ đứt, và nhạc sẽ câm!
Dây đàn quá chùng, nhạc sẽ không lên tiếng!
Lên cho chúng tôi một dây đàn đừng quá cao và cũng đừng qua thấp."
Ngài bỗng giật mình tỉnh ngộ: "Không ngờ các người ấy cũng có nhiều ý tưởng hay! Ừ, có lẽ trong việc tìm điệu nhạc cứu thế, Ta đã lên quá cao dây đàn. Không khéo nó đứt mất trong khi Ta đang cần đến nó. Ta phải bồi bổ lại thân thể mới được." (Ánh Ðạo Vàng).
Từ hôm ấy, với sự cúng dường của nàng Tu-xà đa. Ngài bồi dưỡng lại sức khoẻ và nhờ đó Ngài có đủ sức khoẻ để tham Thiền 49 ngày dưới cây bồ-đề và Thành đạo. Thật đúng là: "Phật pháp bất ly thế gian giác. Ly thế mích bồ-đề..."
Con đường "Trung Ðạo" mà Ngài đã thuyết minh cho chúng ta, là kết quả của cả một quá trình thử nghiệm của chính bản thân Ngài, đi từ cực đoan này sang cực đoan khác.
Ðức Phật đã gặt hái được đạo quả, do chính Ngài gieo trồng chứ không do ai khác. Với Trí tuệ sáng suốt, với lòng Từ bi bao la, với ý chí kiên cường, Ngài đã đi đến đích như Ngài ước nguyện. Và trong cuộc trường chinh vạn dặm đi từ người đến Phật, Ngài đã nếm đủ mùi cay vị đắng, đã dẫm đạp lên bao sỏi đá chông gai, đã mò mẫm bước đi trong tăm tối đầy cạm bẫy của cuộc đời, mà không có một ai có thể giúp đỡ Ngài, không có một thế lực thần bí, siêu nhiên nào hỗ trợ Ngài. Nhưng chính vì thế mà Ngài đã rút tỉa được bao kinh nghiệm quý báu, những kinh nghiệm của thế giới nội tâm, của con người, của cõi đời này và cho cõi đời này, chứ không phải của một thế giới nào khác, một cõi trời nào khác. Ngài đã trở thành một vị "Chỉ đường" rất vĩ đại, nhưng lại rất gần gũi với chúng ta, là vì vậy.
Những lời dạy của Ngài, rất thâm thuý, nhưng cũng rất thân thiết với chúng ta, là vì vậy. Giáo lý của Ngài không phải là những giáo điều mặc khải, đòi hỏi một lòng tin tuyệt đối, mà là những lời chỉ dẫn mà ta có thể chứng nghiệm được trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi khi cần đề cập đến một vấn đề trừu tượng, luôn luôn Ngài bắt đầu bằng những câu hỏi rất giản dị, những ví dụ rất cụ thể mà ai cũng có thể nhận thấy được. Chẳng hạn, khi Ngài muốn nói cho các đệ tử biết giáo lý của Ngài không phải là tất cả, mà chỉ là một phần nhỏ của Chân lý, Ngài hái một nắm lá nắm trong tay và hỏi các đệ tử: "Nắm lá trong tay Ta so với lá trong rừng này, nhiều hay ít?" Các đệ tử trả lời: "Bạch Thế Tôn, rất ít." Và Ngài kết luận: "Cũng ít như vậy, giáo lý của Ta so với chân lý trong thế gian này."
Ðể ngăn ngừa sự nhầm lẫn của các đệ tử cho rằng những lời dạy của Ngài về Chân lý là Chân lý Ngài bảo: "Ðừng nhận lầm ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng." Hay để cảnh tỉnh những người "mê" phương tiện mà quên cứu cánh, Ngài nhắc: "Qua sông rồi, thì hãy bỏ thuyền bè mà lên bờ." Những tư tưởng rất sâu sắc đã được diễn tả rất rõ ràng qua những hình ảnh hằng ngày ai cũng thấy được.

***

Trước khi chấm hết, tôi xin nhấn mạnh một lần nữa là, đức Phật của chúng ta không xuất phát từ một cõi siêu nhiên thần bí nào, cũng không phải là một Thiên sứ hay con Thượng đế (cái ý niệm về Thượng đế cũng không được Ngài chấp nhận), mà là người con tinh anh của nhân loại. Một cành hoa quý đã nở trên thân cây nhân loại. Một hoa Ðàm, nói theo truyền thuyết Ấn Ðộ, mấy vạn năm mới nở một lần; hay gần gũi với chúng ta hơn, một Hoa Sen, vươn lên từ trong bùn và biến chất bùn thành hương sắc. Và như vậy, giá trị đích thực của Ngài đã vĩ đại lắm rồi, hào quang của Ngài cũng đã chói sáng lắm rồi. Tôi nghĩ chúng ta không cần phải thêm thắt vào cuộc đời vốn đã kỳ diệu của Ngài, những huyền thoại phi lý, vẽ rắn thêm chân với mục đích là tạo sự thiêng liêng để cho người đời thêm sùng mộ Ngài, kỳ thật đã đẩy lùi Ngài vào thế giới hoang tưởng, làm mất lòng tin đối với những người biết suy nghĩ trong thời đại khoa học ngày nay.
[Võ Đình Cường-1983]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz