Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Tin nội bộ >>  Đạo Hữu viết
Huyễn Mộng
Giác giả nhận ra huyễn mộng thì thường sanh lòng từ. Cuồng giả nhận ra huyễn mộng thì trở thành cuồng si. Nhân quả của huyễn mộng cũng rất huyễn mộng, nhưng nguy hiểm và bình an là sự thật của tri kiến sinh thể khi tiếp xúc với dòng sông của sự sống.
Cái gì không nắm bắt được thì gọi là huyễn mộng. Nhưng giấc mộng nào cũng có vui buồn. Nếu là ác mộng thì có kinh hoàng và khổ đau. Nếu là mộng lành thì lại được ca tụng là đẹp như mộng. Gặp nhau như giấc mộng, tìm thấy nhau như giấc mộng. Trăm năm đi qua như mộng.

Qua đi, qua đi, qua đi, sinh thể đi không dừng lại. Nếu dừng lại được thì đã không là Mộng. Nhưng thực tại không phải Mộng, không phải Huyễn, bởi vì nước mắt các sinh linh nhiều hơn năm biển lớn. Làm sao có thể là Mộng, khi Mộng có nhiều nước mắt sinh linh còn để lại trên toàn thể địa cầu này. Không có manh mún đất nào mà không có xương máu và nước mắt của chúng sanh. Tất cả đều qua đi không dừng lại để nắm bắt được. Nhưng Mộng là có chứ không phải là không có. Nhưng có Mộng mà không có thực tại để nắm bắt cái Mộng trong tay như một đóa hoa tươi hay như một chiếc lá úa... để biết rằng Mộng là có thật tướng hay không ?

Khi nhân loại chưa phát minh ra bom nguyên tử thì không ai biết bom nguyên tử là gì. Khi bom chưa có thì không ai biết, nên dù gọi là có hay không gì cũng không đúng, vì chẳng có cái tướng để có cái gì đó, mà người ta không biết, lại có thể gọi là có thật hay không ? Nhưng khi bom nguyên tử đã được phát minh thì người ta cũng không thể gọi bom nguyên tử là từ không mà trở thành có. Bởi vì bom không thể từ không có gì mà chế ra được quả bom. Không có cái gì từ không mà thành có. Không có cái gì từ có thật mà trở thành không có gì. Quả bom đã chế tạo không thể biến mất mà không còn để lại gì. Mộng huyễn khi đã là mộng huyễn thì cũng như quả bom nguyên tử đã được chế tạo ra. "Mộng Huyễn" chẳng phải là có mà cũng chẳng phải là không. Bởi vì như bóng trăng đáy nước thì chẳng phải có mà cũng chẳng phải không. Nhưng bom nguyên tử thì như Huyễn Mộng đã thành sự thật khi đã được phát minh ra. Có "Bom nguyên tử" là đã có tai họa sống chết của các sanh linh. Khi Bom chưa có mặt thì chưa thể gọi là có hay không. Nhưng khi Bom đã có thật thì vấn đề là sự thật tại đây, vì đó là thực tại, chứ không phải là những khái niệm có hay không của Huyễn Mộng.

Huyễn Mộng chỉ là những khái niệm có và không. Nhưng thực tại là bình an và đau khổ của các sinh linh đang có mặt. Nhận ra bình an và đau khổ là tri kiến của các sanh linh. Những vật thể vô tình như sỏi đá thì không có bình an và đau khổ. "Huyễn Mộng" và "Thực Tại" đều là không có với vật thể. Chỉ có tri kiến của chúng sanh hữu tình mới có Mộng và Thực, vì sự sống là Giác Tánh, chứ không phải là vật chất vô tri. Nhưng từ vật chất mà có Mộng. Vì vậy sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Bốn giá trị hay bốn câu mệnh đề này là tri kiến của Mộng. Sanh linh mê thì có Mộng. Khi Mộng thì luân lưu trong bốn giá trị của bốn mệnh đề này như một thực tại đang sống. Vì vậy, cảm thọ, tri giác, hành vi và nhận thức cũng y như vật chất là cũng có bốn mệnh đề chấp thủ như vậy. Danh và sắc là một hòa hợp thể gọi là ngũ uẩn. Cảm thọ,tri giác, hành vi và phận biết của nhận thức đều hòa hợp cùng vật chất mà danh sắc chấp thọ một trong bốn mệnh đề để sống chết : Có , Không, vừa có vừa không, chẳng phải có và chẳng phải không ! Xoay vần luân hồi trong tri kiến chúng sanh của bốn chấp thủ này, nên có Mộng và có Thực tại là vấn đề của sự sống.

Mộng và Thật là vấn đề tri kiến của tất cả chúng sanh hữu tình đang bơi lội trong dòng sông của sự sống. Ai cũng muốn sống và phải sống như không bao giờ chết. Có người tuyệt vọng muốn chết là vì bị trầm cảm, bị bệnh tâm thần hay chạy trốn khổ đau mà tự sát. Có người tự sát vì muốn nói với đồng loại là tăng thân của mình tiếng nói yêu thương và cảnh tĩnh trước thảm họa vô minh và lạnh cảm với sự sống. Người tự hủy thân mình để làm ngọn đèn cầu nguyện và cảnh tỉnh cho các sinh thể, như Hòa thượng Thích Quảng Đức, như Phật tử Nhất Chi Mai..v.v... là vì yêu thương sự sống và làm cho sự sống trường tồn chứ không phải tuyệt vọng. Vì vậy tự hủy thân mạng chỉ là vì tuyệt vọng với thân khổ đau hoặc là vì yêu thương và hiểu biết giá tri sự sống là gì. Gọi đây là tri kiến giác ngộ hoặc hôn mê, còn phải xem lại thực tế là có bình an hay không bình an. Bình an chính là lòng từ bi đích thật có mặt. Đau khổ là do còn ái ngã mà sanh phiền não. Huyễn mộng có từ ái kiến, bình an có từ lòng từ bi. Có lòng từ bi thì có hỉ xã. Có Từ lực là năng lượng yêu thương thì có Bi là năng lượng xua tan khổ ách. Có Từ thì có Bi, vì vậy đây là một cái lòng không phải hai cái riêng có. Đã có Từ Bi thì đương nhiên phải Hỉ và Xả. Không mừng vui thì cũng không xả bỏ được để bố thí thân mạng và tài sản. Một người có tấm lòng hỉ xả thì không tiếc thân mạng và tài sản gì cả, bởi vì phải là người có trí tuệ nhìn thấy thực tại hiện tiền bây giờ là gì thì mới có lòng Từ Bi Hỉ Xả. Nếu là Mộng ác không phải Mộng lành thì giấc mộng cũng gây khổ đau đâu thua gì thực tại khổ đau. Đã vướng mắc với khổ đau thì làm sao có lòng Từ Bi Hỉ Xả để sống bình an. Có hỏi Mộng huyễn là gì thì cũng không có bình an để nhận diện được thực tại. Đi tìm các khái niệm có , không, còn, mất, thêm, bớt....thì chỉ gặp mộng huyễn, bởi vì khái niệm chỉ là mộng. Tri kiến trong mộng thì không nhận thức đúng thực tại. Nhưng thực tại cũng không rời nhân quả mà tồn tại. Mộng huyễn chính là cơn mê của thực tại. Thực tại là hình, Mộng là bóng. Cái bóng cũng từ hình mà có. Tuy cái bóng thì không thật. Nhưng cái không thật lại cũng không phải là không có. Cái bóng có từ cái hình. Vì vậy khổ đau của Mộng cũng là thực tại phóng hiện ra bóng ma ảo ảnh làm điêu đứng các sanh linh.

Khi Đức Thế Tôn mở Đại Hội Pháp Hoa để khai thị tri kiến Phật cho chúng sanh. Đức Phật phải đợi cho 5.000 vị tăng thượng mạn rời khỏi đạo trường mới nói Kinh Pháp Hoa. Bởi vì 5.000 vị này không rời khỏi mà nghe Pháp thì sẽ có hại cho họ. Với tri kiến chơn thật thì nghe các Pháp hữu vi như Mộng Huyễn thì có bình an giải thoát tri kiến để giác ngộ an lành. Nhưng nghe bằng khái niệm và ý tưởng thì thật là nguy hiểm vô cùng. Tri kiến giải thoát bình an sẽ không có mà chỉ có phiền não và ngã mạn. Bởi vì người mang ý tưởng và khái niệm thế giới là giấc mộng thì chẳng có tri kiến giải thoát mà chỉ có ngã mạn và ảo tưởng. Cái ảo tưởng đó rất nguy hiểm và trở thành kẻ có tư tưởng hư vô và phá hoại. Vì vậy nghe pháp bằng khái niệm để trở thành tăng thượng mạn và có thêm thành kiến chấp thủ chướng ngại cho tri kiến giải thoát. Bởi vậy, khi 5.000 ngàn tăng thượng mạn bỏ đi, Phật đã nói là rất lành, vì những hạt giống lép đã rời khỏi, chỉ có những hạt giống trí tuệ chắc thật mới có đủ nhân duyên để nghe Phật khai thị Tri Kiến Phật.

Lúc đó trong hội chúng có những vị được Phật thọ ký, nhưng lại xin thưa với Phật là xin đi phương khác để thọ trì Kinh Pháp Hoa, bởi vì các vị thấy rằng cõi nước này là ngũ trược ác thế, chúng sanh cõi này cang cường khó sống chung để hành đạo. Đức Phật đã yên lặng đồng ý cho các vị hành giả này ra đi.

Lúc đó lại có các thượng khách từ các cõi nước trong khắp mười phương, nghe Đức Phật Thích Ca đang thuyết kinh Pháp Hoa, nên vâng lời của tất cả các Đức Phật ở khắp mười phương đến cõi Sa-Bà ngũ trược ác thế này để kính lễ tam bảo và nghe pháp của Đức Phật Thích Ca . Khi đến nơi thấy nơi đây bị nghèo đói , bệnh tật, chiến tranh, hận thù, vô minh đang dày xéo chúng sanh, thì lòng thương xót dâng lên, liền đến trước Phật Thích Ca xin ở lại xứ này để xây dựng thành nơi tốt đẹp như quê hương của các Đức Phật khắp mười phương. Nhưng lúc đó Đức Phật lại từ chối không nhận lời. Bởi vì Phật dạy rằng : Ở cõi này đã sẵn có vô lượng vị Bồ Tát Trang Nghiêm đầy đủ đức tướng như Đức Phật.

Phật vừa dứt lời thì các vị bồ tát nhiều vô lượng từ lòng đất tịch mặc vọt lên rất hùng dũng. Các vị bồ tát đều có tướng đẹp và trang nghiêm không khác Đức Phật Thích Ca. Tất cả các vị đệ tử đang có mặt của Phật đều ngạc nhiên vì chưa từng biết mặt các vị này. Các vị này nghĩ rằng Đức Phật mới đản sanh, mới xuất gia, mới thành đạo và sắp nhập Niết Bàn. Còn các vị bồ tát trang nghiêm này đã thành đạo từ vô lượng kiếp về trước, lại ẩn thân nơi lòng đất tịch mặc rất hiếm có, nên hội chúng chưa có ai được biết các vị này là học trò do Đức Phật Thích Ca giáo hóa và đã thành đạo từ lâu. Họ tưởng cha trẻ mà con già là việc không ai tin được. Nhưng tất cả các bồ tát này đều kính lạy Phật và cảm thọ ơn giáo hóa của Phật. Bởi vậy Đức Phật từ chối sự trợ giúp của các sứ giả học trò của tất cả các Đức Phật đang làm thượng khách của cõi Sa Bà này. Đây chính là sự thật huyền nhiệm của Diệu Pháp mà Đức Phật đã khai mở cho thế giới huyễn mộng của tri kiến chúng sanh được khai thị ngộ nhập tri kiến Phật.

Thế giới khổ đau với ảo hóa của Ma Vương Ba Tuần, thật ra đã có từ vô thủy các vị bồ tát đang hành đạo và trang nghiêm cõi nước. Nhưng vì tri kiến mê lầm của chúng sanh không thấy, chứ không phải bồ tát bỏ chúng sanh mà vào diệt độ. Nhân quả của Huyễn Mộng là tri kiến của chúng sanh. Nếu Bình An không có đó thì đã không tin được Tam Bảo là thường trụ ở thế gian này.

Giác giả nhận ra huyễn mộng thì thường sanh lòng từ. Cuồng giả nhận ra huyễn mộng thì trở thành cuồng si.

Nhân quả của huyễn mộng cũng rất huyễn mộng, nhưng nguy hiểm và bình an là sự thật của tri kiến sinh thể khi tiếp xúc với dòng sông của sự sống.
[Minh-Đức]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz