Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Phật Học >>  Nhân Quả-Luân Hồi
Định luật của Nghiệp (The Law of Karma)
Nghiệp quả có thể có tác dụng trong thời gian ngắn hoặc trong thời gian dài. Theo truyền thống, chúng ta chia Nghiệp thành ba loại có liên quan đến số lượng của thời gian về các kết quả của hành động với chính sự biểu hiện. Nghiệp có thể biểu hiện ảnh hưởng của nó trong đời sống này hoặc trong đời sau, hoặc biểu hiện trong vài kiếp sống sau nữa. Khi Nghiệp biểu hiện kết quả của nó trong đời sống này, chúng ta có thể nhìn thấy kết quả của Nghiệp trong một thời gian tương đối ngắn. Loại nghiệp này thì dễ dàng kiểm chứng bởi bất kỳ ai trong chúng ta.


By Dr. Peter Della Santina

Chúng ta đã biết đến một cặp tư tưởng tương quan với nhau bao gồm trong giáo lý Phật giáo, đó là hai học thuyết về Nghiệp và Tái sinh. Hai ý tưởng này có sự liên quan mật thiết, nhưng vì chủ đề là một lĩnh vực khá rộng, hôm nay chúng tôi sẽ bắt đầu giải thích với các ý tưởng về Nghiệp, chủ đề Tái sinh sẽ dành trong bài giảng khác.

Chúng ta biết rằng những gì dẫn khởi chúng ta trong vòng luân hồi sinh tử (samsara) là tâm ô nhiễm- tham muốn, sân hận và thiếu hiểu biết. Chúng ta đề cập về điều này khi chúng ta bàn về Chân lý thứ hai - sự thật về nguyên nhân của đau khổ. Phiền não ô nhiễm là những gì mà tất cả chúng sanh trong vòng luân hồi đều tham dự, cho dù chúng ta bàn đến con người hay động vật hoặc chúng sinh ở trong các cảnh giới khác mà chúng ta không thể biết đuợc. Trong cảnh giới này, tất cả chúng sinh là như nhau, nhưng đối với tất cả chúng sinh chúng ta có thể hiểu rằng có rất nhiều sự khác biệt. Ví dụ, một số người trong chúng ta giàu có, một số khác thì nghèo khó, một số người khỏe mạnh, những người khác thì bị bịnh tật và vv. Có rất nhiều sự khác biệt giữa các chúng sinh, và thậm chí có nhiều sự khác biệt hơn giữa thú vật và con người. Những sự khác biệt này là chiêu cảm bởi Nghiệp .

Tất cả chúng ta đều có tham, sân và si, vốn dĩ đối với tất cả chúng sinh, nhưng các nhân duyên đặc trưng mà trong đó chúng ta tìm thấy chính mình là kết quả của biệt nghiệp tạo thành hoàn cảnh mà chúng ta hiện diện, hoàn cảnh của chúng ta có thể là giàu có, khỏe mạnh, và vân vân. Những hoàn cảnh này được quyết định bởi Nghiệp. Chính trong ý nghĩa này mà Nghiệp giải thích sự khác biệt giữa các chúng sinh. Nó giải thích tại sao có người may mắn trong khi những người khác thì kém may mắn, có người thì giàu có hạnh phúc, người khác lại bất hạnh. Đức Phật đã trình bày cụ thể rằng Nghiệp tạo nên sự khác biệt giữa các chúng sinh . Bạn cũng có thể nhớ lại rằng sự hiểu biết về Nghiệp như thế nào tác động sự ra đời của chúng sinh trong hoàn cảnh hạnh phúc hay không hạnh phúc - sự hiểu rõ đối với chúng sinh lưu chuyển như thế nào từ tình trạng hạnh phúc đến tình trạng bất hạnh, và ngược lại, từ hoàn cảnh bất hạnh đến hạnh phúc như là kết quả của Nghiệp - là một phần kinh nghiệm của Đức Phật vào đêm giác ngộ của Ngài. Đó là Nghiệp, biểu lộ những những hoàn cảnh mà chúng sinh đang hiện hữu.

Có nhiều sự luận bàn về các chức năng của Nghiệp, chúng ta hãy xem xét kỹ hơn đối với những gì là Nghiệp. Chúng ta hãy minh định Nghiệp. Có lẽ chúng ta có thể định nghĩa Nghiệp tốt nhất bằng sự xác định đầu tiên đó là những gì không phải là Nghiệp. Nó luôn là trường hợp mà chúng ta thường thấy mọi người hiểu lầm ý tưởng về Nghiệp. Điều này đặc biệt đúng trong việc xử dụng thuật ngữ bình thường hàng ngày của chúng ta. Chúng ta hay nghe người khác nói rằng kẻ ấy không thể thay đổi hoàn cảnh của y vì nghiệp chướng của chính y. Trong ý nghĩa này, Nghiệp trở thành một loại của sự thoát ly thực tế. Nó sẽ trở thành tương tự như Tiền định hay Định mệnh. Đây hoàn toàn không phải là sự hiểu biết chính xác về Nghiệp. Có thể sự hiểu lầm đối với nghiệp như thế đã hình thành bởi các ý niệm thông thường mà chúng ta đã gán cho May mắn và số phận. Nó có thể là vì lý do này mà ý tưởng về Nghiệp đã bao trùm tư tưởng phổ biến với khái niệm của Tiền định. Nghiệp không phải là Số mệnh hay Tiền định.

Nếu nghiệp không phải là Số mệnh hay Tiền định thì nó là gì? Chúng ta hãy nhìn vào thuật ngữ của chính nó. Karma có nghĩa là tạo tác, nghĩa là "hành động". Ngay lập tức chúng ta có một sự nhận diện đối với ý nghĩa thực sự của Nghiệp không phải là Số mệnh, vì Karma là hành động. Nó là động lực. Nhưng đúng hơn chỉ đơn giản là hành động bởi vì nó không phải là tác động cơ học. Nó không phải là hành động vô thức hoặc không tự nguyện. Nó là hành động tác ý, có ý thức, có chủ ý, cố ý. Nó chủ ý như thế nào? Hành động sẽ làm nhân duyên hoặc quyết định tình trạng của chúng ta? Đó là bởi vì mọi hành động phải có một phản ứng, một hiệu ứng. Sự thật này đã được thể hiện liên quan đến vũ trụ vật lý học của nhà vật lý vĩ đại Newton, người thành lập định luật với tuyên ngôn rằng mọi hành động phải có một phản ứng ngang bằng và đối lập. Trong lĩnh vực đạo đức của các hành động có ý thức, chúng ta có một đối tác định luật vật lý của hành động và phản ứng, định luật mà tất cả sự cố ý, có tạo tác phải có hiệu lực. Đây là lý do tại sao đôi khi chúng ta nói về Karma – vipaka (nghiệp báo), hành động có chủ ý và có hiệu lực chín muồi của nó, hay Karma – Phala (nghiệp quả), hành động cố ý và kết quả của nó. Đây là khi chúng ta nói về hành động có chủ ý cùng với hiệu ứng hoặc kết quả của nó khi bàn về định luật của Nghiệp.

Chúng ta có thể hiểu bằng ý nghĩa của cách giới thiệu chung này rằng Nghiệp có thể thuộc về hai loại - Thiện nghiệp hay nghiệp tốt và Bất thiện nghiệp hay nghiệp xấu, Như thế chúng ta không phải hiểu lầm với lối diễn tả này đối với Nghiệp, nó rất hữu ích cho chúng ta để nhận ra thuật ngữ ban đầu. Trong trường hợp này, nó là kushala hoặc akushala karma, Nghiệp mang ý nghĩa là tốt hay không tốt. Để hiểu những thuật ngữ được xử dụng như thế nào, điều quan trọng là chúng ta biết được ý nghĩa thực sự của kushala (thiện) và akushala (bất thiện). Kushala có nghĩa là thông minh hay khéo, trong khi akushala có nghĩa là không thông minh, không khéo léo. Điều này giúp chúng ta nhận rõ các thuật ngữ đang được sử dụng, không phải nằm trong thuật ngữ tốt và xấu nhưng trong ý ngữ khéo léo và vụng về, ý ngữ của thông minh và không thông minh, ý ngữ của điều thiện và bất thiện. Như thế điều thiện và bất thiện là như thế nào? Thiện, theo nghĩa là những hành động mang lại lợi ích cho chính mình và người khác, những hành động đó không chỉ vượt ra khỏi tham lam, sân hận và si mê, nhưng không ngoài sự quên mình, lòng nhân ái, lòng từ bi và trí tuệ.

Người ta có thể hỏi làm thế nào để biết được một hành động thiện hay bất thiện sẽ tạo nên hạnh phúc hay bất hạnh. Thời gian là câu trả lời. Chính Đức Phật đã trả lời câu hỏi này. Ngài đã giải thích rằng, khi một hành động bất thiện chưa mang lại kết quả đau khổ, người ngu ngốc sẽ cho rằng đó là những hành động tốt. Nhưng khi hành động bất thiện phát sinh hoa trái của đau khổ thì y mới nhận ra rằng hành động này là bất thiện. Tương tự như vậy, khi một hành động lương thiện chưa mang lại kết quả của hạnh phúc, một người tốt cũng có thể cho rằng hành động này bất thiện. Khi nó phát sinh hoa trái của hạnh phúc, y mới nhận ra rằng hành động này là tốt. Vì vậy, người ta cần nên đánh giá hành động thiện và bất thiện từ quan điểm của hiệu quả lâu dài. Rất đơn giản, hành động thiện dẫn đến hạnh phúc cuối cùng cho chính mình và những người khác, trong khi các hành động bất thiện có kết quả ngược lại, hậu quả là đau khổ cho chính mình và những người khác.

Cụ thể, những hành động bất thiện có thể tránh được liên quan đến ba cửa hay phương tiện của hành động là thân, khẩu và ý. Có ba hành động bất thiện thuộc về thân, bốn thuộc về miệng, và ba thuộc về ý có thể từ bỏ. Ba hành động bất thiện của thân cần phải tránh là sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Bốn hành động bất thiện của lời nói cần phải tránh là nói dối, nói vu khống, nói lời thô lỗ và nói những lời độc hại. Ba hành động bất thiện của ý cần nên tránh là tham, sân và si. Bằng cách tránh mười hành động bất thiện này chúng ta sẽ tránh được những hậu quả của chúng. Các hành động bất thiện tạo ra đau khổ với kết quả của chúng. Kết quả của những hành động bất thiện có thể có các sự biểu hiện khác nhau. Quả chín hoàn toàn của các hành động bất thiện bao gồm việc tái sinh trong các cõi thấp kém, cảnh giới của đau khổ - địa ngục , ngạ quỷ và súc sanh. Nếu những hành động bất thiện không đủ dẫn đến tái sinh trong các cõi thấp, chúng sẽ dẫn đến những nỗi bất hạnh trong cuộc sống làm người. Ở đây chúng ta có thể nhìn thấy ngay nơi công việc theo nguyên tắc của một nhân dẫn đến một hiệu ứng tương tự. Ví dụ, việc sát hại thường xuyên bị thúc đẩy bởi ác ý và sự giận dữ và kết quả cướp mất cuộc sống của các chúng sinh khác sẽ dẫn đến sự tái sinh trong cõi địa ngục nơi mà kinh nghiệm của người đó được bão hòa bởi sự giận dữ và ác ý, và nơi có thể y bị giết một cách lặp đi lặp lại. Nếu việc giết hại là không đủ nặng hoặc thường xuyên để dẫn đến sự tái sinh vào địa ngục, nghiệp sát hại này sẽ dẫn đến tuổi thọ ngắn khi làm con người, bị chia lìa những người thân yêu, sợ hãi hoặc hoang tưởng. Ở đây chúng ta cũng có thể thấy hiệu quả là tương đương với nguyên nhân. Sát hại rút ngắn cuộc sống của người khác, tước đoạt người thân yêu của khác và vv, và vì vậy nếu chúng ta sát hại, chúng ta sẽ chịu trách nhiệm để trải nghiệm những hiệu ứng này. Tương tự như vậy, việc trộm cắp thì được phát sanh trong tâm ô nhiễm ham muốn, có thể dẫn đến sự tái sinh như một con ma đói hoàn toàn thiếu thốn đối với các vật thể mong muốn. Nếu điều này không đủ để dẫn đến sự tái sinh như một con ma đói, nó sẽ dẫn đến sự đói nghèo, phụ thuộc vào người khác để kiếm sống của một kiếp làm người và vv. Hành vi tà hạnh tình dục có kết quả đau khổ hừng hực hay cuộc hôn nhân không hạnh phúc.

Trong khi hành động bất thiện tạo ra kết quả bất thiện - đau khổ, hành động thiện đưa đến quả lành - hạnh phúc. Điều này có thể giải thích hành động thiện trong hai cách. Một cách đơn giản có thể coi hành vi thiện như việc tránh các hành động bất thiện, tránh sát sinh, trộm cắp, tà dâm và phần còn lại. Hoặc hành động thiện là những hành vi tích cực. Ở đây có thể liên quan đến sự đặc trưng về hành vi thiện bao gồm bố thí, gìn giữ đức hạnh, thiền định, sự tôn kính, phục vụ, tạo phước, vui mừng trong công đức của người khác, nghe Pháp, dạy Pháp và tu tập. Cũng giống như hành động bất thiện phát sinh đau khổ, những hành động lành mạnh mang lại lợi ích. Những phản ứng ở đây cũng tương tự đối với các hành động. Ví dụ, bố thí dẫn đến sự giàu có. Nghe Pháp đưa đến trí tuệ. Những việc làm thiện có những kết quả của chúng giống như việc làm bất thiện tạo nên kết cục không tốt.

Nghiệp, là thiện hay bất thiện, được biến đổi bởi các điều kiện dưới những hành động được hình thành. Nói cách khác, một hành động thiện hay bất thiện có thể thêm sức mạnh nhiều hoặc ít còn phụ thuộc vào điều kiện nó được thực hiện. Điều kiện xác định trọng lượng hoặc sức mạnh của Nghiệp (nghiệp lực) có liên quan đến Chủ thể - người tạo tác, và liên quan đến Đối tượng- việc tạo tác đã được hoàn thành. Vì thế các điều kiện xác định trọng lượng của nghiệp được ứng dụng với chủ thể và đối tượng của hành động. Cụ thể, chúng ta lấy ví dụ về sát hại, để quyết định hành động sát hại có sự hoàn tất và chủ lực hoàn thành, năm điều kiện phải có mặt: đối tượng bị giết là một chúng sinh (hữu tình), biết đó là sự tồn tại của một chúng sinh, có ý định giết chúng sinh, dùng phương tiện hay hành động giết chết chúng sinh đó, và dẫn đến cái chết của chúng sinh đó . Cũng vậy, ở đây chúng ta có thể thấy các điều kiện chủ thể và đối tượng. Các điều kiện chủ thể là nhận biết đó là chúng sanh, ý định giết và hành động giết. Các điều kiện khách quan (đối tượng) là sự hiện diện của chúng sinh và cái chết của chúng sinh ấy.

Tương tự như thế, có năm điều kiện biến chuyển nghiệp lực: hành động thường xuyên, lặp đi lặp lại, hành động đã thực hiện với ý định và quyết tâm lớn; hành động đã thực hiện mà không hối tiếc; hành động đã thực hiện đối với những người đạt được những phẩm chất phi thường, và hành động đã thực hiện đối với những người làm điều thiện trong quá khứ. Ở đây cũng có những điều kiện chủ quan và khách quan. Điều kiện chủ quan là hành động liên tục, hành động được thực hiện với ý định, và hành động thực hiện mà không hối tiếc. Nếu người ta làm một việc bất thiện mà cứ lặp đi lặp lại với một quyết tâm lớn mà không hối tiếc, năng lực của hành động sẽ được tăng cường. Điều kiện khách quan là đặc trưng của đối tượng được thực thi và bản chất của mối quan hệ này. Nói cách khác, nếu người ta tạo tác một hành vi thiện hay bất thiện đối với hữu tình có phẩm chất vĩ đại như các bậc A La Hán, hay Đức Phật thì hành động thiện hay bất thiện được thực hiện sẽ có năng lượng lớn hơn. Cuối cùng sức mạnh của hành động thiện hay bất thiện được tạo tác đối với những người được hưởng phước từ quá khứ, chẳng hạn như cha mẹ, thầy cô giáo và bạn bè của người đó (trong hiện kiếp) sẽ tốt hơn…

Những nhân duyên khách quan và chủ quan cùng xác định nghiệp lực. Điều này thật quan trọng, bởi vì sự nhận thức này sẽ giúp chúng ta hiểu rằng Nghiệp không chỉ đơn giản là một vấn đề của đen và trắng, hoặc xấu hay tốt. Nghiệp là hành động đạo đức và trách nhiệm đạo đức. Nhưng sự vận hành của quy luật của Nghiệp được điều chỉnh rất tinh vi và cân bằng với nhân quả tương ứng, vì thế khi xét đến các điều kiện chủ quan và khách quan chúng ta có thể xác định bản chất của một hành động. Điều này đảm bảo rằng kết quả của hành động là ngang bằng và tương tự như bản chất của nguyên nhân.

Nghiệp quả có thể có tác dụng trong thời gian ngắn hoặc trong thời gian dài. Theo truyền thống, chúng ta chia Nghiệp thành ba loại có liên quan đến số lượng của thời gian về các kết quả của hành động với chính sự biểu hiện. Nghiệp có thể biểu hiện ảnh hưởng của nó trong đời sống này hoặc trong đời sau, hoặc biểu hiện trong vài kiếp sống sau nữa. Khi Nghiệp biểu hiện kết quả của nó trong đời sống này, chúng ta có thể nhìn thấy kết quả của Nghiệp trong một thời gian tương đối ngắn. Loại nghiệp này thì dễ dàng kiểm chứng bởi bất kỳ ai trong chúng ta. Ví dụ, khi một người nào đó không chịu học hành, khi một ai đó đam mê trong những trò tiêu khiển có hại như rượu và ma túy, khi ai đó bắt đầu ăn cắp để phục vụ cho những thói quen có hại của chính mình; quả báo sẽ được biểu hiện trong một thời gian ngắn. Họ sẽ nhận chịu việc mất việc làm, bạn bè, và sức khỏe và vv. Chúng ta không thể nhìn thấy quả báo lâu dài của Nghiệp, nhưng Đức Phật và các Đệ tử của Ngài, những vị đã có tuệ nhãn có thể cảm nhận trực tiếp được những quả báo dài hạn. Ví dụ, khi ngài Mục Kiền Liên bị những tên cướp đánh đến chết, Đức Phật đã bảo rằng sự cố này là quả báo mà Mục Kiền Liên đã tạo tác trong kiếp trước khi ông đã đưa cha mẹ già của mình vào rừng và đã đánh chết họ, sau đó thì thông báo rằng họ đã bị giết bởi bọn cướp. Sự ảnh hưởng của hành động bất thiện này được thực hiện trong nhiều đời sống trước đã đuợc báo ứng duy nhất trong đời sống cuối cùng của Mục Kiền Liên. Vào lúc chết chúng ta phải rời khỏi tất cả mọi thứ - tài sản và những người thân yêu của chúng ta, nhưng Nghiệp của chúng ta sẽ đi cùng chúng ta như một cái bóng. Đức Phật đã nói rằng không nơi nào trên trái đất hay trên trời cao mà người ta có thể thoát khỏi Nghiệp của chính mình. Vì vậy, khi nhân duyên đúng thời, phụ thuộc vào tâm và thân, kết quả của Nghiệp sẽ biểu hiện chính nó giống như sự phụ thuộc vào một số điều kiện nào đó mà trái xoài sẽ xuất hiện trên một cây xoài. Chúng ta có thể thấy rằng ngay cả trong thế giới của thiên nhiên, có những tác dụng nhất định cũng phải mất nhiều thời gian để xuất hiện hơn những cái khác. Chẳng hạn, nếu chúng ta trồng hạt giống đu đủ, chúng ta sẽ có được những quả đu đủ trong thời gian ngắn hơn là chúng ta gieo hạt giống sầu riêng. Tương tự như vậy, ảnh hưởng của Nghiệp biểu hiện trong chu kỳ ngắn hạn hoặc dài hạn.

Ngoài hai loại Nghiệp: Thiện nghiệp và Bất thiện nghiệp, chúng ta nên chú ý đến Vô ký nghiệp - nghiệp: trung tính hoặc vô hiệu quả. Vô ký nghiệp là nghiệp mà không có hậu quả đạo đức hoặc vì chính bản chất của hành động hầu như không có tác dụng về đạo đức, hoặc bởi vì nó được thực hiện không có cố ý và một cách vô tình. Ví dụ, ngủ, đi bộ, hít thở, ăn uống, làm nghề thủ công và v.v… trong chúng không có hậu quả đạo đức. Tương tự như vậy, hành động không có chủ tâm là Vô ký nghiệp. Nói cách khác, nếu người ta vô tình đạp phải một con côn trùng, trong tình trạng là không ý thức về sự tồn tại của nó, điều này cũng tạo thành Vô ký nghiệp, vì không có ý định - yếu tố chủ ý là không có.

Những lợi ích về sự nhận thức định luật của Nghiệp là sự hiểu biết khích lệ con người thay đổi những hành vi bất thiện đưa đến hậu quả khổ đau cho mình. Một khi chúng ta hiểu rằng trong cuộc sống của chính mình, mỗi hành động sẽ có một phản ứng tương đương và công bằng, một khi chúng ta hiểu rằng chúng ta sẽ trải nghiệm kết quả của hành động đó, tốt hoặc xấu, chúng ta sẽ kiềm chế hành vi bất thiện, không muốn trải nghiệm những kết cục của các hành động bất thiện. Và tương tự, sự hiểu biết rằng những hành động thiện đưa đến hạnh phúc với kết quả của chúng, chúng ta sẽ trau dồi những hành vi thiện này. Sự phản chiếu về định luật của Nghiệp, của hành động và sự phản ứng trong lĩnh vực đạo đức khuyến khích chúng ta từ bỏ những hành động không lành mạnh và trau dồi những hành động lành mạnh. Chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn những kết quả cụ thể của Nghiệp trong cuộc sống tương lai, và làm thế nào mà Nghiệp làm điều kiện (nhân duyên) và quyết định yếu tố sự tái sinh của chúng ta vào (bài giảng) tuần tới.

Link: http://www.buddhanet.net/e-learning/karma1.htm

Extract from "Fundamentals of Buddhism", by Dr. Peter Della Santina
[Chuyển ngữ Thích Nữ Tịnh Quang]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz