Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Phật Học >>  Nhân Quả-Luân Hồi
Những câu chuyện của Tiến Sĩ Ian Stevenson Phần 2
TIỀN THÂN BONGKUCH PROMSIN

Bongkuch Promsin sanh ngày 12 Tháng 2 Năm 1962 tại làng Don Kha, Tỉnh Nakhon Sawan, Thái Lan. Ông Pamorn Promsin, cha Bongkuch là Hiệu Trưởng một trường Trung Học gần Don Kha.
Tuy ông có kiến thức khá nhưng lương hàng tháng lại ít ỏi nên cuộc sống của gia đình rất đạm bạc. Ngay khi biết nói rành rẽ, Bongkuch đã hay kể chuyện về tiền kiếp của mình. Bongkuch tả cho gia đình nghe nhiều chi tiết về đời sống trước như em ở làng Hua Tanon cách Don Kha chừng 9 cây số, em có tên là Chamrat và còn nhớ tên cha mẹ của Chamrat. Em cũng kể ra các vật dụng mà em có như là con dao, chiếc xe đạp, và gia đình ở tiền kiếp có nuôi 2 con bà.(Gia đình hiện tại của em không nuôi bà). Em cho biết một chi tiết đặc biệt là đã bị hai tên sát nhân giết chết ở Hua Tanon. Họ đã đâm em nhiều nhát để lấy chiếc đồng hồ đeo tay và sợi giây chuyền của em. Sau đó họ đã vất thây em xuống ruộng. (Khi kể chuyện này Bongkuch chừng 2 tuổi). Bongkuch cho biết sau khi chết em ở trên một ngọn cây gần nơi bị giết một thời gian là bảy năm. Một hôm trời mưa em trông thấy người cha hiện tại (Pamorn Promsin) đi ngang, em đã theo ông về nhà bằng xe buýt. Cha của Bongkuch xác nhận là trước khi vợ ông mang thai Bongkuch, ông có đi Hua Tanon để dự một phiên họp và hôm đó trời mưa. Mẹ của Bongkuch cho biết có lần Bà đi tìm măng ở khu vực xảy ra án mạng trước khi mang thai Bongkuch nhưng không nhớ rõ thời gian nào. Bà nói rằng Bà không đến nơi gia đình Chamrat cư ngụ. Ông Pamorn Promsin vì nghề nghiệp có quen biết vài thầy giáo ở Hua Tanon nhưng không có bà con hoặc bạn bè ở đấy. Cả hai vợ chồng đều xác nhận với tôi (Ian Stevenson) là không biết gì về vụ Chamrat, một thiếu niên bị giết cả. Những tin tức giết người của một làng như Hua Tanon có được loan truyền đến các vùng lân cận như Don Kha nhưng những vụ án mạng thời ấy thường hay xảy ra nên người ta không mấy quan tâm đến và hầu như đã quên vụ án xảy ra. Hơn nữa vụ án xảy ra nay đã trên 10 năm thì tôi cho rằng dù cha mẹ Bongkuch có nghe kể vụ Chamrat bị giết cũng ít chú ý và gần như là quên ngay. Chuyện Bongkuch kể về tiền kiếp của mình đã đến tai gia đình Chanrat và một vài người đã tới Don Kha thăm Bongkuch.(Lúc này Bongkuch chừng 2 tuổi rưỡi). Sau đó Bongkuch có theo gia đình đến Hua Tanon. Những chuyến viếng thăm này chỉ có mục đích là để kiểm chứng những điều Bongkuch nói về tiền kiếp. Chuyện về tiền kiếp của Bongkuch là có thực. Hai người dính líu trong vô giết Chamrat, một người đã tẩu thoát được, còn một người tuy bị bắt nhưng được tha vì thiếu chứng cớ. Tôi (Ian Stevenson) có thẩm vấn vài người cảnh sát hiện còn nhớ rõ vụ án, họ đã xác nhận những lời Bongkuch cho biết về vụ giết người rất là trung thực kể cả tên những người bị tình nghi. Các báo cáo về trường hợp này đã được đăng trên báo chí Thái Lan vào tháng 3 năm 1965 và một thông tin viên đã gọi cho tôi. Bác Sĩ Sophon Nakphairaj (Giám Ðốc Bệnh Viện của Chánh Phò Tỉnh Nakhon Sawan) đã điều tra vụ này năm 1965. Còn tôi điều tra vụ này năm 1966. Tôi đã phỏng vấn cả hai gia đình tại Don Kha và Hua Tanon. Tôi vẫn tiếp tục điều tra vào những năm sau đó, và lần chót tôi gặp cha mẹ Bongkuch vào năm 1980. Tính tình khác thường của Bongkuch đã khiến cho gia đình em và sau ngay cả tôi cũng đều phải quan tâm đến em. Trong thời gian nói nhiều đến tiền kiếp gia đình thường thấy em có nhiều tật xấu, chẳng hạn như cách thức rửa tay và đôi khi em nói những tiếng mà gia đình không hiểu. Sở thích về ăn uống của Bongkuch không giống như những người trong gia đình vì gia đình Chamrat là một gia đình Lào. (Người Thái cho rằng những món ăn của người Lào không tinh khiết bằng những món ăn của Thái và tiếng nói lạ lùng chính là tiếng Lào). Gia đình Bongkuch không có ai biết nói tiếng Lào ngay cả những người dân làng Don Kha. Bongkuch thích các món ăn Lào, chẳng hạn như món ăn cơm nếp mà người Lào ưa chuộng. Bongkuch thù ghét các người giết Chamrat và em hăm dọa là sẽ trả thù khi có dịp. Thỉnh thoảng em lấy một cây gậy nhỏ và đánh vào một cái trụ mà em tưởng tượng là kẻ thù đã giết Chamrat; em vừa đánh vừa gọi tên những kẻ sát nhân. Có lúc em nghĩ rằng em là một người lớn bị tù túng trong một thân hình đứa nhỏ cho nên em có cử chỉ của một người lớn. Em đánh răng (Trẻ con Thái Lan thường không đánh răng). Ðặc biệt có lần em đã tới tiệm hớt tóc để xin cạo râu. Em không để ý đến những bộ gái cùng lứa tuổi mà chú ý đến các thiếu nữ. Một hôm có một thiếu nữ đến thăm gia đình em và dự định ở chơi ít bửa, nhưng vì thái độ mơn trớn ve vãn của em khiến thiếu nữ bực mình phải ra về sớm. Ngoài tính hơi phóng đãng, đôi khi anh lại muốn xuất gia đầu Phật. Hai bản chất trái ngược này của Bongkuch rất phù hợp với tính tình của Chamrat. Trước khi chết, Chamrat có gắn bó với một người bạn gái, Chamrat cũng đặc biệt lưu ý đến tôn giáo và anh muốn trở thành một thầy tu. (Ðiều này không có gì là bất thường vì ở Thái Lan, rất nhiều thanh niên vào Chùa tu một thời gian và sau đó trở về đời sống cư sĩ và lập gia đình). Khi Bongkuch càng lớn lên thì trí nhớ về tiền kiếp càng mờ dần. Trong làng, các trẻ khác vẫn thường chế nhạo em là "đứa trẻ có hai đời sống", điều này làm em muốn quên ký ức. Ðến năm 10 tuổi thì em không còn kể chuyện với ai về tiền kiếp của mình nữa Ký ức mờ nhạt dần với thời gian, em đã trở lại hoàn toàn bình thường. Năm 1980, vào lần cuối cùng tôi (Ian Stevenson) gặp lại em, lúc này em đã 18 tuổi đang theo theo học ở một trường Tỉnh Nakhon Sawan. Một điều mà em không bỏ được là tính thích ăn cơm nếp như những người Lào. TIỀN THÂN CỦA GILLIAN VÀ JENNIFER POLLOCK Gillian và Jennifer Pollock, hai chị em sanh đôi, sanh ngày 4 tháng 10 năm 1958 tại Hexam Northumberland, Anh Quốc. Trong khoảng thời gian từ hai tuổi đến bốn tuổi, 2 em thường nhắc đến cuộc đời của 2 người chị có tên là Joanna và Jacqueline. Ngày 5 Tháng 5 Năm 1957, một người điên lái xe hơi đã đâm lên vỉa hỗ tông vào Joanna và Jacqueline đang đi bộ làm hai em chết ngay tại chổ. Lúc xảy ra tai nạn, Joanna được 11 tuổi và Jacqueline 6 tuổi. Thảm kịch làm cho ông bà Pollock đau đớn. Tuy nhiên Ông John Pollock vùng tin ở luân hồi nhưng vợ ông thì không. Vào đầu năm 1958 khi bà mang thai ông quả quyết rằng Joanna và Jacqueline đã đầu thai song sanh để trở lại với gia đình. Bất chấp hồ sơ y khoa đã ghi nhận Bà Florence Pollock chỉ sanh một người con, ông John Polloch vẫn tin là vợ ông sẽ sanh đôi. Ðúng như sự dự đoán của ông, vợ ông đã sanh đôi. Ông bà Pollock nhận thấy em Jennifer có hai bớt cùng một cỡ và cùng một vị trí như 2 vết bớt trên người Jacqueline, một vết trên trán gần sống mủi Jacqueline. Jacqueline có vết thẹo này là vì bị té, còn vết kia là một mụn ruồi mầu nâu ở phía trái thắt lưng của Jennifer giống y như Jacqueline. Trong thời gian từ 2 đến 4 tuổi, hai chị em song sanh thường nói đến đời sống của 2 người chị đã chết. Hai em nhận ra vài món đồ chơi mà chị của chúng đã chơi trước kia và tỏ ra rất quen thuộc như đã từng có. Ông Bà Pollock xác nhận là ông bà cũng không bao giờ đề cập đến 2 đứa con đã chết với đôi trẻ song sanh và chúng cũng chưa bao giờ nhìn thấy các đồ chơi trước khi chúng nhắc đến hai người chị. Jennifer thường ỷ lại vào chị là Gillian cũng như trước đây Jacqueline thường nương tựa vào Joanna. Khi hai em bắt đầu học viết thì Gillian, ngay từ buổi ban đầu đã biết cầm bút một cách rành rẽ giữa các ngón tay, còn ngược lại Jennifer thì cầm cây viết bằng cả nắm tay. Joanna lúc chết đã 11 tuổi nên đã biết viết còn Jacqueline chỉ mới 6 tuổi còn đang tập viết nên cầm cây viết bằng cả nắm tay. Tôi (Ian Stevenson) bắt đầu điều tra vụ này năm 1964 và thường xuyên liên lạc với gia đình Pollock cho đến năm 1985. Lòng nhiệt thành tin vào luân hồi của ông Pollock có thể làm cho trường hợp bị suy giảm và một số người không tin rằng hai ông bà hay những người khác trong gia đình đã không nói trước mặt 2 em về cái chết của 2 người chị. Ðể trả lời việc nói rằng quan niệm quá tin tưởng về luân hồi của ông có thể làm thiệt hại cũng như sai lạc hẳn ý nghĩa của trường hợp, ông đã khôn khéo trả lời việc đó cũng có nhưng chỉ một phần nào thôi. Việc không dấu diếm về luân hồi khiến ông ghi nhớ các nhận xét và các tính tình của 2 đứa con song sanh giống như 2 đúa chị đã chết nhưng hầu hết các bậc cha mẹ người Âu Châu thường không tin mà còn nhạo báng. Năm 1978 tôi (Ian Stevenson) đã thử máu 2 chị em song sanh để xem chúng sanh ra từ một trứng hay hai trứng. Cuộc thử máu này cho thấy hai chị em do một trứng sanh ra, có nghĩa là cùng một chủng tử. Có những người cho rằng những vết bớt trên người Jennifer là do di truyền nhưng nếu như vậy thì Gillian cũng phải có các vết bớt đó; đằng này Gillian không có vết nào cả. Những vết bớt trên Jennifer lại trùng hợp với những vết bớt trên người Jacqueline cả về kích thước lẫn vị trí. (Phải chăng Jennifer chính là hiện thân của Jacqueline nên đã có những vết này). Gillian và Jennifer đã lớn lên bình thường như mọi người và hầu như đã quên hẳn những chuyện khi còn thơ ấu thường hay kể ký ức về tiền kiếp. Lần tôi gặp hai cô vào năm 1985, hai cô không còn nhắc gì đến tiền kiếp của mình nữa tuy nhiên hai cô cũng không từ chối các bằng chứng trước đây mà ông bà Pollock đã nhận thấy khi hai cô còn thơ ấu. SAMUEL HELANDER Samuel Helander sanh ngày 15 tháng 4 năm 1976 tại Helsinki, Phần Lan, Âu Châu. Từ một đến hai tuổi em thường nói đến đời sống của người cậu (em trai mẹ) có tên là Pertti Haikio. Về sau càng lớn Samuel càng giống tính tình của cậu Pertti. Tôi điều tra vụ này vào năm 1978 và năm 1981. Những người cung cấp tin tức cho tôi gồm có mẹ Samuel, bà ngoại Samuel, người này cũng là mẹ của Pertti. Pertti Haikio sanh ngày 8 tháng 6 năm 1957 tại Helsinki, Phần Lan, chết vì bệnh tiểu đường ngày 10 tháng 6 năm 1975 khi vừa 18 tuổi. Vài tháng trước khi chết, Pertti mắc bệnh tiểu đường trầm trọng - đã uống thật nhiều nước mà gia đình không ai để ý đến việc này - Pertti đã bị bất tỉnh và chết. Mẹ Pertti, Bà Anneli Lagerqvist (đã tái giá sau khi ly dị với cha Pertti) và người con gái là Marja Helander mẹ của Samuel) rất buồn thảm sau cái chết của Pertti. Lúc có mang Samuel được 10 tuần, Marja có ý định muốn phá thai. Trong một giấc mộng, Marja nằm mơ thấy Pertti căn dặn "đừng phá thai, hãy giữ đứa nhỏ". Khi Samuel được 1 tuổi rưỡi, được hỏi đến tên thì Samuel trả lời "Pelti". (Ở thời điểm này và sau một thời gian nữa Samuel không nói rõ được vần r trong chữ Pertti). Gia đình rất lấy làm lạ vì đã nhiều lần căn dặn tên là Samuel nhưng em cứ nhất định là Pelti (sau này thì Pertti). Năm lên 6 tuổi Samuel vẫn cho mình là Pelti. Tuy nhiên em không từ chối lại gần mẹ mỗi lần bà gọi em là Samuel. Samuel đã nhớ một vài điều liên quan đến tiền kiếp chẳng hạn nhận ra vài người trong ảnh hay vài món đồ quen thuộc của Pertti. Những tấm hình chụp Pertti khi chưa tới 10 tuổi thường làm Samuel chú ý. Nhìn vào một bức hình Pertti lên ba, Samuel nói rằng lúc chụp tấm hình này Pertti bị chó cắn vào bắp chân trong khi Samuel chưa bao giờ bị chó cắn và nghe ai nói đến việc Pertti bị chó cắn. Bức hình cũng không có dấu vết gì cho biết Pertti bị chó cắn. Nhìn một bức hình Pertti mang nạng, Samuel nói đó là hình Samuel, em đã phải nằm nhà thương để băng bột đôi chân. Khi tôi (Ian Stevenson) đến Helsinki để tìm hiểu, tôi có được xem tấm hình này. Tấm hình chụp Pertti mang nạng và người ta có thể đoán là Pertti bị thương đôi chân nhưng bực hình không có dấu vết gì cho biết đôi chân Pertti đã bị băng bột trước khi chụp hình. Vào khoảng 4 tuổi Pertti đã bị tai nạn gẫy 2 chân. Và lúc nói ra điều này thì Samuel cũng khoảng gần 4 tuổi. Mỗi dịp thấy hình của Pertti, Samuel đều nhận là hình của em. Nhìn tấm hình cha Pertti, Samuel nói "Ðây là hình cha tôi". Bà Marja vẫn dấu tấm hình này vì sợ người chồng sau ghen tuông nên quả quyết là Samuel chưa bao giờ nhìn thấy tấm hình đó cả. Samuel cũng nhận được nhiều món đồ của Pertti: một cây đàn lục huyền cầm, một cái áo lạnh bằng nhung sọc và một chiếc đồng hồ có vứt trong một ngăn tủ, toàn đồ linh tinh bỏ đi. Khi thấy chiếc đồng hồ, Samuel vội chụp ngay, nói là của em và xin được giữ lại mặc dầu chiếc đồng hồ đã mất cả quai. Khi ngủ có lúc em để dưới gối, có lúc cất trong ngăn kéo giường. Hỏi về cái chết của Pertti thì Samuel nói rằng Pertti đã được quàn tại một nơi có nhiều quan tài, có vài chiếc được mở nắp. (Samuel chưa bao giờ được dẫn tới một nhà quàn nào cả). Xác của Pertti sau khi chết được mang tới một nhà quàn. Samuel còn cho biết mẹ Pertti (Bà Ngoại Samuel) đã khóc thảm thiết như thế nào. Khi được đưa tới nghĩa trang, Samuel đã chỉ vào ngôi mộ Pertti mà nói rằng "Ðây là mộ tôi". Bà ngoại cũng như mẹ Samuel đều nhận thấy Samuel có cá tính giống Pertti. Khi Pertti còn nhỏ có lần bị uống nước trong bồn tắm nên đã sợ nước, sau đó khoảng 15, 16 tuổi Pertti lại bị ngã từ một cầu tầu xuống biển, suýt chết dưới nước sau tai nạn này, Pertti càng bị nước ám ảnh. Vì vậy Pertti không bao giờ bơi lội cả. Samuel cũng vậy, em rất sợ nước, tắm với Samuel là "một cực hình" - nên em luôn luôn phản đối mỗi lần phải tắm. Khi bắt đầu biết nói, Samuel gọi Bà Anneli Lingerqvist là "Mẹ" (Bà ngoại Samuel và là mẹ Pertti) còn mẹ ruột của em là Marja Helander thì em lại gọi bằng tên và nói "Bà không phải mẹ tôi đâu". Samuel thường tỏ ra âu yếm và quyến luyến Anneli (Bà Ngoại) và thường đòi bú sửa của Bà. Mãi đến khi lên 5, Samuel mới thôi không gọi Bà Anneli là "Mẹ" nữa. Khi Pertti còn sống, cứ vào chiều ngày lễ Giáng Sinh, khi mọi người thân đã quây quần đầy đủ, Pertti có thói quen đi hôn từng người một. Trong gia đình chỉ có mình Pertti làm vậy. Vào Giáng Sinh năm 1978 khi được 2 tuổi rưỡi Samuel đi vòng quanh phòng và hôn từng người một y như Pertti đã làm ngày trước. Samuel cũng có hai bộ điệu giống như Pertti, khi đứng thì chân trước chân sau và tay thì chống nạnh, khi đi thì hai tay chắp đằng sau lưng. Trong gia đình không một ai có cử chỉ như trên cả. Qua sự thực và những bằng chứng hiển nhiên đã được phối kiểm về trường hợp luân hồi này, Pertti chết năm 18 tuổi vào ngày 10 tháng 6 năm 1975 đã tái sanh ngày 15 tháng 4 năm 1976 làm con của chị ruột là Marja Helander và mang tên hiện nay la Samuel Helander. ROBERTA MORGAN Tôi được biết trường hợp luân hồi này vào tháng 2 năm 1971 khi Bà Shirley Morgan, mẹ của Roberta ở Minnesota điện thoại đến Ðại Học Ðường Virginia nói là từ mấy năm nay Roberta, con Bà cứ quả quyết là có "cha mẹ" khác. Em muốn đến thăm nhưng gần như tuyệt vọng. Em nói em đã hứa về thăm cha mẹ khác này và em muốn giữ đúng lời hứa. Roberta sanh ngày 28 tháng 8 năm 1961 và đến tháng 2 năm 1971 em được 9 tuổi rưỡi. Em bắt đầu nói về tiền kiếp từ khi em khoảng 2 tuổi đến 2 tuổi rưỡi (1). Bà Morgan cho biết trong khoảng thời gian này em nói nhiều đến tiền kiếp nhưng lúc này Bà chưa hiểu về luân hồi nên cho rằng Roberta nói vớ vẩn mà thôi. Về sau nhờ đọc sách và suy luận Bà mới thấy là Roberta quả đã nhớ được tiền kiếp của mình và sự việc Bà cấm đoán không cho Roberta nói về tiền kiếp là sai. (1) Nhưng đến năm 1971, em đã thôi nhắc tới, tôi sẽ nói rõ lý do sau. Ðến năm 1971, sau khi có ít khỏi niệm về luân hồi, Bà cảm thấy có trách nhiệm là phải tìm ra gia đình tiền kiếp của Roberta. Sau khi được điện thoại của Bà, tôi có liên lạc với Bà và yêu cầu Bà viết ra tất cả những gì mà Roberta nhớ được về tiền kiếp của em. Bà Morgan đã làm theo những lời tôi dặn và đã trả lời những câu hỏi của tôi trong những thư kế tiếp. Tháng 7 năm 1972 tôi đến Minnesota thăm Roberta và Bà Shirley Morgan - (tôi không gặp cha Roberta) - Roberta đã tỏ ra thân thiện với tôi nhưng vào lúc này em đã quên hẳn tiền kiếp của mình. Qua các cuộc đàm thoại và các tin tức Bà Morgan cung cấp cho tôi được biết câu chuyện như sau. Trong thời kỳ em hay nhắc đến tiền kiếp thì em cư xử giống như một người con nuôi. Em nhớ rõ căn nhà của gia đình em. Nhà em trên một ngọn đồi không có nhà nào kế bên và phải đi qua một con đường đất dài mới tới. Gia đình em có một trang trại nuôi ngựa và chó. Có lần lúc 4 tuổi em được đưa tới chuồng ngựa, em đã đi thẳng lại những con ngựa và cho chúng ăn. Có người hỏi em: "Em có sợ ngựa không?" Em đã trả là i: "Không em đã cưỡi ngựa nhiều lần ". Roberta cũng nói đến chiếc xe hơi của người cha. Em không nhớ rõ là xe chở khách hay xe chở hàng nhưng xe này thỉnh thoảng người cha của em vẫn chạy. Roberta nói rằng: "Cha và mẹ khác cũng sống ở thành phố này " (Thành phố này khác thành phố mà tôi đến thăm họ). Có một lần cùng ngồi xe với mẹ, Roberta đã chỉ một con đường nói là em ở đó. Em cho biết con đường đất cũng dẫn đến xa lộ. Em muốn xuống xe đến thăm ngôi nhà xưa nhưng Bà Morgan ngăn cản vì lúc đó Bà chưa hiểu gì về luân hồi nên đâu có để ý đến lời nói của một đứa trẻ. Roberta đã cằn nhằn mẹ nhiều ngày vì Bà không dẫn em đến thăm cha mẹ ở tiền kiếp nhân dịp tốt này. Roberta đòi mẹ mua những đồ chơi giống như đồ chơi mà em thường có, khi nghe mẹ nói không biết đó là những đồ chơi nào thì Roberta bảo rằng là Bà kém thông minh. Và một lần khác em đã gắt gỏng vì Bà không nhớ đến tiền kiếp của em, theo em Bà Morgan phải biết đến tiền kiếp của em. Quả là Roberta đã nhớ rất rõ tiền kiếp. Về người mẹ ở tiền kiếp Roberta nói với Bà Morgan: "Mẹ (hiện tại) cư xử giống hệt như người mẹ trước của con nhưng Bà ấy nhìn không giống mẹ". Roberta khen người mẹ trước nội trợ giỏi nhất là về nấu ăn. Khi Bà Shirley Morgan nấu vài món ăn mới cho bửa cơm chiều thì đôi khi Roberta lại nói là em đã ăn nhiều lần món ăn này. Một hôm Bà Morgan nấu món bắp nhồi sẽ để dành cho gia đình một ngạc nhiên. Khi Bà đặt món ăn lên bàn Roberta đã không ngạc nhiên chút nào còn nói: "Con đã ăn nhiều lần món này, mẹ không nhớ là mẹ trước của con thường nấu món này sao". Em đã dùng một tên khác để gọi món ăn này nhưng Bà Morgan không còn nhớ. Bà Morgan hỏi Roberta cách nấu món ăn này của người mẹ trước, Roberta đã kiên nhẫn tả lại. Roberta cũng cho rằng mẹ hiện tại ngu xuẩn không biết chùi các cửa kiếng như người mẹ trước. Ngoài ra Roberta thường xen vào câu chuyện của cha mẹ và phát biểu nhiều ý kiến mà theo mẹ em em không thể nào biết như vậy. Roberta cho vài manh mối về thời đại em sống ở kiếp trước chẳng hạn như em không thích mặc quần áo kiểu cọ, gia đình có xe hơi, đa số các chủ trại đều có xe hơi. Roberta còn nhấn mạnh cha mẹ trước của em còn sống và cố gắng tìm thế nào cũng thấy. Roberta có khuynh hướng mặc quần áo con trai. Em không muốn làm con gái. Em thích các đồ chơi dành cho con trai. Khi Bà Morgan hỏi thẳng rằng em chết như thế nào thì em trả lời "Con không chết, con chỉ xa cha mẹ một thời gian, con đã nói với họ là con sẽ trở về". Không bao giờ em nói là em yêu mến cha mẹ trước của em hơn nên Bà Morgan nghĩ rằng Bà là người được Roberta thương mến nhiều hơn. Vì em không nhớ tên cha mẹ nên Bà Morgan không thể nào kiếm ra được gia đình tiền kiếp của em. Bà Shirley Morgan cùng chồng là người Cơ Ðốc Giáo - Bà là thành viên của Hội Cơ Ðốc nên không bao giờ được nghe về luân hồi cả. Vì không hiểu luân hồi nên thời gian Roberta nói về tiền kiếp Bà chẳng những đã không khuyến khích mà còn bực mình nữa. Lại nữa Roberta đã so sánh Bà với người mẹ ở tiền kiếp nên Bà không thích Roberta nói về tiền kiếp. Vì vậy cho nên mỗi lần nói đến tiền kiếp là Bà tức giận và đánh Roberta. Sợ bị trừng phạt nên Roberta đã phải ngừng không dám nói về tiền kiếp nữa. Dù vậy, đến năm 4 tuổi hỏi em, em cũng vẫn nói là em đã có nhiều lần cưỡi ngựa. Sau này Bà Shirley Morgan cảm thấy hối hận và bị ám ảnh bởi những lời ghi nhận của Roberta và Bà đã đổi ý muốn đi tìm lại cha mẹ ở tiền kiếp cho Roberta. Bà đã rất ân hận vì đã đánh đập Roberta, cấm đoán em nói về tiền kiếp khiến em không dám nói về tiền kiếp nữa và cũng vì vậy việc tìm kiếm không thể thực hiện được. Nếu trong thời gian Roberta nói về tiền kiếp, Bà không đánh đập em, khuyến khích em, rất có thể em nhớ lại tên cha mẹ em ở tiền kiếp. Rất tiếc là khi Bà Shirley Morgan thay đổi thái độ thì Roberta đã 9 tuổi ruỡi rồi nên không còn nhớ gì về tiền kiếp cả. Sau khi thăm gia đình Roberta vào mùa hè năm 1972, tôi không còn liên lạc với gia đình này nên không còn biết gì hơn về trường hợp này nữa. TIỀN THÂN CỦA SUSAN EASLAND Lần đầu tiên tôi biết trường hợp này vào năm 1968 khi tôi nhận được thư của Bà Charlotte Eastland. Sau khi đọc các bài tham cứu của tôi trên các tạp chí, Bà đã viết thư cho tôi những gì mà con gái Bà là Susan nói về tiền kiếp. Susan có nhiều ký ức về người chị gái tên là Winnie đã chết. Tôi đã thư từ liên lạc với Bà Eastland trong năm 1968 và đầu năm 1969. Tới mùa thu năm 1969 tôi đến thăm Bà ở Idaho. Tại nhà Bà, tôi đã gặp Susan, nhân vật chính của câu chuyện và người con gái lớn của Bà là Sharon. Tôi rất tiếc không được gặp Ông Robert Eastland, người chồng sau này của Bà vì Ông Robert đã nhiều lần mục kích Susan nói về tiền kiếp. Winnie là con của Bà Charlotte Eastland lên 6 tuổi rất dễ thương đã bị xe đụng chết vào năm 1961. Cái chết đột ngột của Winnie làm gia đình Bà Eastland rất đau buồn. Bà cầu mong Winnie được tái sanh trở lại với gia đình. Lúc này Bà chỉ có ý niệm mơ hồ về luân hồi. Bà kể cho tôi nghe là ở Ấn Ðộ người ta nói rằng con người có thể tái sanh làm con vật (theo Bà cũng không thể) chứ không nghe nói một người chết có thể tái sanh thành người khác được. Sau khi Winnie chết được 6 tháng, người con gái lớn nhất trong gia đình là Sharon nằm mơ thấy Winnie trở về với gia đình. Rồi hai năm sau Bà Eastland mang thai Susan thì Sharon cũng lại nằm mơ thấy Winnie trở về. Năm 1964 Bà Eastland còn đang ở trong nhà Bảo Sanh chờ sanh Susan thì người chồng trước của Bà (cha của mấy đứa con Bà) có nghe thấy Winnie nói: "Thưa Ba con đang trở về". Hai năm trước gia đình đã mất đứa con gái là Winnie thì nay Susan ra đời, ai nấy đều thầm mong Susan chính là Winnie tái sanh. Khi được hai tuổi, Susan bắt đầu nói ít nhiều đến đời sống của Winnie. Nếu có ai hỏi Susan năm nay bao nhiêu tuổi thì Susan trả lời là sáu tuổi (tuổi lúc Winnie bị chết). Khi lên năm tuổi, Susan có vẻ già dặn hơn tuổi, Susan cả quyết là lớn hơn người anh tên Richard đang 11 tuổi. Winnie lớn hơn Richard 3 tuổi, cho nên nếu là Winnie thì điều này rất đúng, còn là Susan thì sai hoàn toàn! Ðược xem hai tấm ảnh của Winnie, Susan nhất định "Ðó là hình tôi mà". Không những thế Susan còn đòi gĩù những tấm ảnh nữa. Một cái Susan treo chỗ giường ngủ, còn một cái thì mang theo người trong một thời gian. Susan chưa bao giờ được gọi bằng tên Winnie, nhưng có một lần, Susan cầm lấy cây bút chờ viết nguệch ngoạc vào cánh cửa nhà bếp chữ "Winni". Em bỏ sót chữ e và viết chữ I nghiêng thay vì thẳng. Trong thời gian này, Susan thường nói câu: "Khi nào tôi đi học tôi sẽ chơi đu ở trong trường". Susan chưa đi học, em vẫn ngồi đu ở sân nhà. Winnie khi xưa lúc bắt đầu đi học trước khi bị chết thảm vẫn hay chơi đu ở trong trường. Khi Winnie còn sống, Bà Eastland có một lọ bánh có hình con mèo. Mỗi khi đứa nào muốn ăn, Bà thường hỏi con mèo có thể cho con Bà mấy chiếc và Bà giả bộ nói giọng con mèo trả lời: "Meo, con có thể lấy một chiếc" (Số bánh thay đổi tùy theo đứa trẻ đòi nhiều hay ít). Khi Winnie chết Bà cất cái lọ đi và quên hẳn đã mấy năm. Lúc Susan lên 4, Bà Eastland lại mang cái lọ ra và bỏ vào đầy bánh. Susan đòi một chiếc, Bà vô tình hỏi Susan "Con mèo nói sao?", không suy nghĩ Susan trả lời: "Meo, con có thể lấy một chiếc". Bà Eastland không thể ngờ Susan có thể trả lời đúng ngay câu hỏi mà xưa kia Bà thường dùng khi kể tới chi tiết này. Bà có nhận xét tinh tế là một đứa trẻ thông minh như Susan có thể trả lời được câu hỏi và tôi muốn thêm là có thể trả lời đúng bởi thần giao cách cảm, nhưng đúng từng chữ, từng câu là việc khó. Chỉ có thể nói rằng Susan chính là Winnie xưa kia mới lập lại được mà thôi. Susan sau đó kể thêm vài chuyện nữa khi Winnie còn sống. Susan đã kể lại một cuộc đi chơi bờ biển cùng gia đình em có bắt được một con cua và còn nói được tên những người tham dự cuộc đi chơi hôm đó. Bà Eastland nhớ là một năm trước khi Winnie chết gia đình Bà có đi chơi bờ bể của Tiểu Bang Washington. Họ nhảy sóng, nghịch cát, nhặt vỏ sò và bắt hến. Tuy nhiên Bà không nhớ họ có bắt được con cua hay không. Susan kể chính xác tên 3 trong số 4 người tham dự, em đã quên người cha kế sau này. Em còn đính chính lại là có cả cha em (cha của Winnie) và cũng cho biết đã cùng với Sharon đi chơi đồng cá, Susan không biết sợ ngựa và đã có lần đi dạo dưới chân ngựa. Sự việc đúng như vậy, Winnie trước đây đã từng chơi với Sharon trên bãi cá, không sợ ngựa và cũng có lần đi dạo dưới chân ngựa. Bà Eastland hỏi Susan có nhớ Cậu Bé Gregory ở trước nhà không thì Susan cho biết còn nhớ và còn cho biết là thường chơi với Greg (tên tắt của Gregory). Bà Eastland chưa bao giờ nói với Susan về Gregory cả, thế mà Susan vẫn biết được. Hỏi Susan còn nhớ Chú George ở phố trên không? Susan nói không còn nhớ căn nhà của Chú thế nào nhưng có nhớ Chú và còn thêm rằng: "Con có thói quen ngừng lại thăm Chú và chơi ở nhà Chú một lát trước khi tới trường". Ngày Winnie bị xe đụng chính là ngày em ngừng lại để chơi với Chú George. Cậu Bé Gregory và Chú George cùng ở chung một thành phố với Winnie trước khi em chết, còn Susan thì được sanh và sống tại một thành phố khác nhỏ hơn ở Idaho. Quý Vị Ðộc Giả thấy ở đây mẹ của Susan thỉnh thoảng đã gợi lại trí nhớ tiền kiếp của Susan bằng cách hỏi em các sự việc trong đời Winnie tuy có thể biết được tiền thân của em nhưng mặt khác lại có thể đưa đến sự lầm lẫn, nhất là đối với một người thông minh và thận trọng như Bà Eastland. Một lần khác Bà Eastland kể cho Susan rằng Winnie dã làm mất đôi giầy mới ngoài cánh đồng. Lần ấy Susan cười và nói rằng em không quan tâm đến việc mất đôi giầy. Em còn thêm: "Mẹ phải lên phố mua cho con đôi giầy mới nữa". Sự việc xảy ra đứng như vậy, Winnie chỉ mất một đôi giầy trên cánh đồng. Ðến cuối năm 1969, tôi vẫn theo dõi trường hợp luân hồi này. Cho đến năm 1977 khi tôi liên lạc với Bà Eastland để phối kiểm lại một số chi tiết thì có một sự việc khác Susan vừa nhớ được như sau: Susan cho biết có lần em theo Bà Eastland đến một bãi chơi ném bóng, trong lúc mẹ em ném bóng, em (Winnie) đi mua kẹo ở một khu vực gần đấy. Một em trai ở đấy đang chạy quanh đến ôm và hôn em (Winnie). Bà Eastland nhớ rõ chuyện này khi Bà kể chuyện cho chồng Bà nghe, Ông rất giận dữ. Susan nhắc lại những ký ức về Winnie với vẻ tha thiết như nhắc lại những sự việc của chính mình đã xảy ra "từ lâu". Trong một lá thư gửi cho tôi, Bà Eastland viết: "Susan học rất tấn tới, hình như nó biết và chỉ cần nhớ lại mà thôi. Bà nhận thấy tính nết cũng như hành động của Susan giống hệt như Winnie ngày trước. Cả hai đều tháo vát, lanh lợi và ngăn nắp khác hẳn người chị Sharon tính nết rụt rè nhút nhát. Tuy nhiên về hình dáng thì Susan không giống Winnie. Winnie có tóc đỏ và mắt nâu sậm còn Susan thì tóc vàng, mắt xanh. Nhưng cả hai cùng có lông mọc đằng sau lưng. Cha các em cũng vậy, mà mấy đứa khác lại không. Susan cũng có một vết thẹo nhỏ bên hông trái đúng chỗ Winnie bị xe đụng gây ra vết thương trầm trọng khiến bị tử nạn. (Tôi có bản sao hồ sơ y khoa của bệnh viện nơi Winnie được mang tới sau tai nạn và chết ở đó). Qua những ký ức về tiền kiếp mà Susan nhớ lại, Winnie đứa con gái của Bà Eastland đã chết năm 1961, và tái sanh năm 1963 cũng tại gia đình Bà và mang tên mới là Susan. Trường hợp này xảy ra ở Hoa Kỳ, trong một gia đình theo đạo Cơ Ðốc không chấp nhận thuyết luân hồi. Khi tôi đến thăm, Bà Eastland cho biết người ta có thể trục xuất Bà ra khỏi cộng đồng Cơ Ðốc nếu biết được Bà có niềm tin vào thuyết luân hồi. Bà đã khám phá ra tính cách hấp dẫn và lôi cuốn của thuyết này, dù rằng Bà vẫn luôn theo đúng tôn chỉ các Nhà Thờ Cơ Ðốc Giáo đề xướng ra. Bà quả quyết với tôi là cho tới khi tôi đến thăm Bà vào mùa hè năm 1969 Bà chưa hề kể cho các con Bà niềm tin tưởng của Bà là Susan chính là Winnie tái sanh. Tuy nhiên, sau lần ấy, Bà đã kể cho chúng để giải tỏa các thắc mắc của chúng về lý do thăm viếng của tôi. TIỀN THÂN CỦA MICHAEL WRIGHT Tôi bắt đầu điều tra vụ luân hồi này từ khi người mẹ của Michael là Bà Catherine Wright gọi điện thoại cho tôi. Người đồng sự của tôi nói chuyện với Bà Wright trước nhận thấy vẻ hốt hoảng khi Bà báo tin cho hay con trai Bà, Michael, nói đến tiền kiếp và nhận là người yêu có của Bà trước khi Bà lấy người chồng hiện tại. Người bạn này tên là Walter Miller đã bị chết trong một tai nạn khi xe của Walter đâm xuống ruộng. Tuy không tin có luân hồi, nhưng Bà Wright lại rất tin tưởng vào những hiện tượng lạ kỳ. Vào tháng 9 năm 1978, Bà gọi điện thoại đến Ðại Học Ðường Virginia. Một tháng sau tôi mới đến Texas để phỏng vấn Bà. (Hầu hết các tin tức thâu lượm được trong nội vụ đều do cuộc phỏng vấn này và một cuộc phỏng vấn khác cách đó một năm do Emily William Cook, cộng sự viên của tôi phụ trách). Qua cuộc phỏng vấn, tôi nhận thấy Bà và Bà mẹ của Bà tin tưởng có luân hồi, ngược lại người chồng thì không. Nghĩ cho cùng thì chồng của Bà không đồng quan điểm cũng phải vì vui vẻ sao được khi người bạn trai của vợ mình đã chết lại tái sanh làm đứa con của gia đình. Sở dĩ Bà Wright lấy người chồng hiện tại vì người bạn trai Walter Miller đã chết; phải chăng Walter Miller chưa chết hẳn mà lại tái sanh để xâm nhập vào gia đình của ông? Trong khoảng thời gian từ lúc gọi điện thoại cho tôi vào tháng 9 năm 1978 đến lần viếng thăm Bà vào cuối tháng 10, Bà Wright đã không quan tâm đến sự hờn giận của người chồng và kể hết những điều mà con Bà, Michael, đã nói về tiền kiếp. Bà cho biết chồng Bà cũng phỏng đoán Michael là hiện thân của Walter Miller, người bạn trai có của Bà. Trở lại người bạn trai của Bà, Walter Miller, chết vào mùa hè năm 1967 lúc chưa đầy 18 tuổi. Là một học sinh trung học phổ thông, có triển vọng về hội họa, Walter Miller dự tính vào đại học năm thứ nhất vào mùa thu năm đó. Walter và Catherine đã biết nhau 3 năm, đã hẹn hà nhiều lần và đã cùng nhau đính ước. Một đêm Walter Miller cùng người bạn là Henry Sullivan đi dự khiêu vũ về, vì quá chén nên lúc về Walter ngủ gục trên tay lái khiến chiếc xe đâm xuống ruộng và Walter chết liền tại chỗ, còn người bạn thì không sao cả. Walter chết, Catherine đau xót, nhưng nàng cố đè nén cơn xúc động, Một năm sau, năm 1968, Catherine lấy Frederick Wright, người bạn trai khác. Họ có con gái đầu lòng rồi Michael ra đời. Trước khi chuyện này xảy ra, vào khoảng một năm sau cái chết của Walter, Catherine đã mơ thấy Walter tái sanh. Walter nói rằng anh không chết, anh sẽ trở lại và tiếp tục vẽ chân dung cho Catherine. Catherine nghĩ rằng có thể Walter luân hồi, sẽ tái sanh vào một gia đình nào đó, có thể vào gia đình người chị của Walter là Carole Davis vì Carole có mang vào thời điểm này và không bao giờ có ý nghĩ là Walter sẽ đầu thai vào làm con mình. Michael sanh ra bình thường, thời thơ ấu có đôi khi khó thở. Năm lên ba, Michael bắt đầu nói về tiền kiếp, kể những sự việc xảy ra mà một đứa trẻ lên ba không thể nào có thể biết được. Có một ngày Michael đã làm cho Bà Wright sợ hãi vì em buột miệng gọi "Carole Miller". Sau khi Walter chết, Bà vẫn giữ liên lạc với Carole Miller nhưng Carole đã lập gia đình 10 năm về trước và Michael chỉ gặp có hai lần biết tên hiện tại là Carole Davis chứ không hề biết tên thật là Carole Miller. Michael cũng kể với mẹ như sau: "Bạn tôi và tôi đi trên một chiếc xe, xe đâm xuống ruộng, lén đi lén lại nhiều vàng, cửa xe bị bật ra. Tôi bị văng ra ngoài và chết ngay tại chỗ". Michael sau đó còn cho biết thêm chi tiết như là kính xe bị vỡ, và sau tai nạn, anh được chở qua một cái cầu. Anh cũng nói anh và người bạn đã ngừng bên xa lộ để đi tiểu trước khi gặp tai nạn. Michael nói trúng cả tên thành phố có cuộc khiêu vũ và tên người bạn cùng đi xe chung. Bà Catherine Wright xác nhận các chi tiết về tai nạn của Walter Miller đã được đăng trên các báo chí (có cả ảnh chiếc xe) rõ ràng và đúng như lời Michael thuật lại. Walter bị văng ra khỏi xe, gẫy cổ và chết ngay tại chỗ; xác anh được xe cứu thương chở qua một cái cầu gần chỗ xảy ra tai nạn. Michael cũng cho biết một vài chi tiết khác nhưng những chi tiết này chỉ mình Walter Miller biết được mà thôi, chẳng hạn như chi tiết về căn nhà của Walter, tên họ của Henry Sullivan (và chỉ nhầm chút xíu về biệt danh của Henry Sullivan). Trong cuộc phỏng vấn Bà Catherine Wright với mẹ của Bà là Margaret Carpenter, cả hai đều xác nhận Michael đã nói về tai nạn xe cộ trước mặt họ và Michael đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Chúng tôi nhận thấy những chuyện Michael thổ lộ với mẹ là Catherine rất có thể làm cho Catherine lo lắng, bối rối nên chắc chắn Bà không khuyến khích Michael, con Bà nói chuyện về tiền kiếp. Việc Bà Catherine Wright gọi điện thoại cho tôi và cho tôi biết tự sự về việc này chứng tỏ Michael có thể là hiện thân của Walter Miller đã chết trong một tai nạn xe cộ vào mùa hè năm 1967.
[Ian Stevenson]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz