Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Tin tức Phật sự >>  Quốc nội
Vu Lan: Báo Hiếu - Báo Ân
Những người con Phật chúng ta, có lẽ ít nhất một lần trong đời được nghe kể về câu chuyện cảm động của Ðức Mục-Kiền-Liên cứu mẹ thoát kiếp ngạ quỷ. Từ câu chuyện ấy, Ngài được tôn xưng là Bậc Ðại Hiếu, ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày báo hiếu, và lễ Vu Lan trở thành một thắng hội ở các nước Phật giáo Bắc tông.
Ðối với Việt-Nam, một đất nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến, đạo Hiếu được xem như thước đo giá trị tinh thần và là chuẩn mực đạo đức con người. Việc đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục là bổn phận của tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, giới tính hay địa vị xã hội. Vì thế, ý nghĩa báo hiếu của ngày Vu-Lan đã biến lễ hội này thành một ngày trọng đại, một truyền thống tốt đẹp của cả dân tộc. Tuy nhiên, ý nghĩa của lễ Vu-Lan không chỉ dừng lại ở đó. Rằm tháng bảy còn là ngày Tự tứ, ngày chư Phật hoan hỉ, ngày đền ơn đáp nghĩa và ngày xá tội vong nhân. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đi sâu vào hai lĩnh vực quan trọng là báo hiếu và báo ân, mà mỗi người Phật tử chân chính đều cần hiểu đúng và làm đúng. I- VU-LAN VÀ TINH THẦN BÁO HIẾU. Quyển “Nhị thập tứ hiếu” mô tả nhiều gương sáng về hiếu đạo của các bậc hiền nhân Trung Quốc. Mỗi vị có một cách bày tỏ lòng biết ơn khác nhau đối với cha mẹ, nhưng tựu trung có một điểm chung nhất: Tất cả đều ý thức được rằng, công ơn của các đấng sinh thành dưỡng dục thật cao vời như non Thái, bao la như trời biển; người con dù làm bất cứ điều gì cũng khó thể đền đáp trọn vẹn. Vì vậy, Lão Lai dù tuổi cổ lai hy vẫn múa hát và làm đủ trò trẻ con cho cha mẹ vui; Mạnh-Tông đang mùa đông giá rét khóc bên bụi tre, nước mắt rơi xuống gốc tre làm mọc lên chồi măng tươi ngọt, mẹ hiền nhờ ăn măng mà hết bệnh. Cũng vì vậy, Mẫn Tử Khiên dù bị mẹ kế ghét bỏ hành hạ, vẫn không để lòng oán trách, lại còn xin cha đừng đuổi mẹ đi, vì “nếu mẹ ở lại thì chỉ mình con đói rét, nếu mẹ ra đi thì cả ba anh em đều chịu khổ”. Hiểu được lòng hiếu thảo của các vị, chúng ta cũng sâu sắc cảm thông với nỗi đau không gì sánh nổi của Thầy Tử Lộ: Khi còn hàn vi, ông phụng dưỡng hai thân bằng những bữa canh rau; đến khi làm quan, vật chất dư thừa thì cha mẹ không còn cho mình báo hiếu! Ðối với người thế gian, những gương hiếu thảo như thế là tột cùng, làm cảm động lòng Trời, lòng người và cảm động cả loài vô tình như cây cỏ. Chữ HIẾU lại được đánh giá theo ba mức độ từ thấp lên cao: Tiểu, Trung và Ðại hiếu. Mỗi người sinh ra trong một hoàn cảnh gia đình khác nhau, nhưng ai cũng có các bậc sinh thành và dưỡng dục. Ngay cả những trẻ mồ côi hay bị bỏ rơi, không biết cha mẹ ruột là ai, vẫn phải nhờ những bàn tay từ thiện cưu mang, nuôi dưỡng mình. Cho nên, được trưởng thành, được làm người hữu dụng, chúng ta phải nhớ ơn những người đã sinh ra mình, nuôi dạy mình; và bằng mọi cách, đền đáp công ơn này trong muôn một. Chữ Hiếu ở đây phát xuất từ tình thương yêu chân thật và sâu đậm, kết hợp với lòng biết ơn của người con. Với tình cảm ấy, chúng ta cố gắng thỏa mãn mọi nhu cầu của cha mẹ, làm thế nào để các Người được vui vẻ ấm cúng trong tuổi xế chiều. Không phải chỉ người giàu có mới báo hiếu được, mà đôi khi cha mẹ chỉ cần một vài lời dịu ngọt, một thái độ ân cần quan tâm, đã cảm thấy an ủi rồi. Có những bà mẹ rất tội nghiệp, được con chu cấp tiền bạc đầy đủ, nhưng điều bà cần là tình thương ấm áp của đứa con, thì lại thiếu thốn. Bởi vì con lo phát triển công danh sự nghiệp nơi xa, thời gian rảnh rỗi còn phải nghĩ đến vợ con bạn bè. Ðứa con đâu biết người già thường cảm thấy cô đơn trống vắng, lại dễ tủi lòng, số tiền vô tri vô cảm gửi về hàng tháng làm sao lấp được khoảng trống trong tâm hồn người mẹ xa con? Ðó là chưa nói đến những kẻ bất hiếu, nỡ để cha mẹ già đói khổ quạnh hiu nơi quê nghèo hay trong nhà dưỡng lão, dù bản thân mình đang dư thừa vật chất. Cha mẹ đã không thương, thì có bao giờ họ thật sự yêu thương ai ngoài chính bản thân mình? Tuy nhiên, con hết lòng thương kính cha mẹ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu vật chất và tinh thần cho cha mẹ, có đủ trả ơn cho các Người chưa? - Nhà Phật cho đó chỉ mới là Tiểu hiếu, tức là lòng hiếu thảo ở bậc thấp nhất. Và tùy hành động báo hiếu của người con, mà Tiểu hiếu có lúc đúng nghĩa chữ Hiếu, nhưng có khi ngược lại, trở thành bất hiếu. Vì sao như thế? - Bởi vì, người con chỉ biết chú trọng phần thể chất và tình cảm của cha mẹ, mà chưa nghĩ đến phần đạo đức và tâm linh cho các Người. Mặt khác, nếu cha mẹ có những ham muốn bất thiện, hoặc vượt quá khả năng đáp ứng của người con; con vì thương cha mẹ, phải tìm đủ cách để thỏa mãn, kể cả những cách không hợp pháp, hợp đạo lý. Việc làm ấy có thể gây hậu quả không tốt, tạo nghiệp ác cho bản thân và cả cho cha mẹ, vô tình thành bất hiếu. Do vậy, song song với lòng thương cha mẹ, người con còn phải biết kết hợp với trí tuệ và đạo đức. Nếu cha mẹ tham lam bỏn xẻn, ta khuyên nên mở rộng lòng bố thí cúng dường. Nếu cha mẹ thường sân hận tật đố, ta khuyên nên buông xả chớ chấp trước, biết thông cảm để hiểu và thương yêu mọi người. Nếu cha mẹ chưa biết gì về Phật pháp, ta dần dần giúp cha mẹ hiểu được giáo lý, thọ trì tam quy ngũ giới. Ðây là tinh thần Trung hiếu, tức đạo hiếu bậc trung, mà người Phật tử chúng ta cần thực hiện để có thể báo hiếu song thân một cách đầy đủ và đúng nghĩa. Trường hợp cha mẹ đã qua đời, chúng ta phải làm cách nào để báo hiếu? Kinh Vu-Lan, Ðức Phật dạy rõ về phương pháp cầu siêu cho người đã khuất trong ngày rằm tháng bảy, trong đó có những điều rất quan trọng: Một là, thỉnh chư Tăng phải là những vị tu hành thanh tịnh, trong ba tháng an cư kiết giới trang nghiêm, thực hiện tinh thần Tự tứ đúng nghĩa. Hai là, gia chủ sửa soạn phẩm vật cúng dường chay tịnh, chí thành chí kính cầu nguyện Tam Bảo hộ trì cho vong linh người thân. Ba là, trong buổi trai đàn đúng lễ, tâm thanh tịnh của chư Tăng và tâm thành kính của gia chủ tác động vào thần thức của người đã khuất, khiến người ấy hướng về đường lành, nghiệp ác chuyển thành nghiệp thiện. Ðủ ba điều kiện ấy, buổi cầu siêu mới có kết quả, người đã khuất sẽ được vãng sanh. Thân mẫu hai vị đại đệ tử của Ðức Phật là Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên, cũng nhờ hai vị làm theo lời dạy trên mà thoát khỏi khổ xứ. Nếu các Ngài không xuất gia, tu hành thành tựu đạo quả, làm sao biết mẹ mình đang bị đọa lạc mà cầu Ðức Phật cứu giúp? Ngay cả các vị tu sĩ chân chính, dù chưa đạt đạo, cũng có thể dễ dàng khuyên cha mẹ tích cực tu hành, gieo chủng tử Phật pháp cho các Người, để những đời sau tiếp tục đi theo chánh đạo, cuối cùng vĩnh thoát luân hồi. Sự báo hiếu này có giá trị đích thực, siêu xuất thế gian nên được gọi là Ðại hiếu. II- VU-LAN VÀ TINH THẦN BÁO ÂN. Ngoài công ơn của cha mẹ, con người còn có những ơn nghĩa khác phải đáp đền. Nhà Phật đề cao bốn ơn nghĩa chính, đó là Tứ trọng ân, tức ơn của cha mẹ, của sư trưởng, của chúng sinh và của Tổ quốc. Có thể nói, tinh thần báo hiếu tức đền ơn cha mẹ là nghĩa hẹp của Vu-Lan, còn tinh thần báo ân tức bốn ơn nặng là ý nghĩa rộng rãi và đầy đủ, thuộc phạm trù đạo đức của lễ hội này. * Thế nào là ân sư trưởng? Chúng ta sinh ra và lớn lên, ngoài cha mẹ dạy dỗ dưỡng nuôi, còn được học hỏi nơi nhiều thầy cô khác. Người được học hành nơi trường lớp, từ mẫu giáo đến lúc tốt nghiệp đã chịu ơn dạy bảo của bao nhiêu vị thầy? Ai đã cầm tay chúng ta nắn nót từng nét chữ; ai dạy những kiến thức phổ cập và chuyên sâu, tạo căn bản cho chúng ta phát triển công danh và sự nghiệp sau này; ai dạy đạo đức làm người, cho chúng ta trở thành người dân hữu ích...? Nếu không có thầy trong trường học, khó lòng đào tạo những nhân tài cho đất nước. Ở trường đời, những người dạy chúng ta kinh nghiệm sống, các kỹ năng nghề nghiệp, là người thầy giúp chúng ta có sự vững chãi và trưởng thành trong cuộc sống. Phạm vi này rất rộng, từ người cho ta một lời chỉ dẫn, một lời khuyên khi hữu sự, đến người tận tình truyền thụ những yếu lý trong nghề; từ người dạy ta những điều hiền thiện đến người chống đối phỉ báng ta - đây là các thử thách đôi khi cần thiết để chúng ta có dịp nhìn lại bản thân mình. Ðối với người tu, Sư trưởng còn là ơn Thầy Tổ. Ðây là ân nghĩa xuất thế gian, vì các Ngài dạy chúng ta biết rõ thế nào là cái khổ của chúng sinh, cái gì là nguyên nhân của đau khổ. Nhờ các Ngài, chúng ta mới biết những phương pháp thoát khỏi phiền não khổ đau, được an lạc tự tại trong đời này và nhất là giải thoát nỗi khổ lớn nhất của kiếp phù sinh - nỗi khổ trầm luân sinh tử. Chính được đào luyện trong trường đạo, chúng ta mới có cơ hội tận hưởng hạnh phúc đích thực và tuyệt đối. Vì thế, công ơn của các Ngài đối với chúng ta quả là ơn nghĩa khó đền! * Ơn nặng đối với chúng sinh, người tu chúng ta cần tĩnh tâm quán chiếu để thấy rõ sự liên hệ giữa mình với tất cả chúng sinh hữu tình và vô tình. Từ những nhu cầu vật chất như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường đi... đến nhu cầu tinh thần như thi ca nhạc họa... chúng ta đều nhờ công lao của người khác đưa đến. Không chỉ mang ơn con người, chúng ta cũng phải nhớ ơn những loài hữu tình khác nữa. Ngay cả loài nhỏ nhất như vi khuẩn ký sinh trong cơ thể chúng ta, nếu không có chúng thì một số chức năng cũng khó thể chu toàn (2)! * Ơn lớn thứ tư trong Tứ trọng ân là ơn đối với Tổ quốc. Lịch sử chống ngoại xâm trong suốt quãng đường giữ nước và dựng nước của dân tộc ta, đã chói lọi biết bao gương anh hùng liệt sĩ, hy sinh quên mình cho nền độc lập và tự do của đất nước. Ngay cả trong thời bình, nếu không có lực lượng quân đội và an ninh quốc phòng, không có sự bảo vệ của hiến pháp và pháp luật, người dân làm sao yên ổn để sinh sống, tu hành? Quốc văn giáo khoa thư có kể câu chuyện một người có dịp đi du lịch khắp chốn. Người ta hỏi ông, ông đã đến nhiều nước trên thế giới, đã tận mắt chiêm ngưỡng những thắng cảnh nổi tiếng, vậy theo ông thì nơi nào đẹp nhất? Ông ta trả lời bằng một câu rất đơn giản nhưng rất thấm thía: “Chốn quê hương đẹp hơn cả”. Ðây là tâm trạng của phần đông - nếu không muốn nói là hầu hết - người dân Việt sống xa quê hương. Dù bất cứ lý do nào, bất cứ hoàn cảnh gì khiến phải bôn ba nơi xứ người, nỗi nhớ về chỗ chôn nhau cắt rốn vẫn là một niềm ray rứt khôn nguôi. Vừa nặng oằn chữ ÂN, vừa thắm thiết chữ TÌNH: công ơn đối với đất nước quê hương, nơi đã cho ta một hình hài, một dòng máu; tình nghĩa đối với gia đình với xóm làng quyến thuộc. Ðây là tình tự dân tộc, là tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, từ đó tạo nên lòng yêu nước sâu đậm và ý chí kiên cường bảo vệ giống nòi. Ðiều này giải thích tại sao đất nước ta từng bị xâm chiếm, dân tộc ta từng bị nô lệ mà vẫn không đồng hóa; tại sao Việt Nam có thể chiến thắng rất nhiều giặc ngoại bang hung hãn để giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, để ngày hôm nay có thể sánh vai cùng bè bạn khắp năm châu. Con người sống có thể thiếu những loại hình giải trí, thiếu tiện nghi vật chất, nhưng dứt khoát không thể thiếu những nhu cầu thiết yếu cho sự sinh tồn: nhịn ăn được vài mươi ngày, nhịn uống nước được 1-2 ngày, nhịn thở chỉ được 5-10 phút. Hành tinh chúng ta sở dĩ có sự sống là vì có không khí và nước, từ đó cây cối rau quả mọc lên làm lương thực cho động vật. Cho nên, nhớ ơn các loài vô tình cũng là một đạo lý. Nhìn lại thế kỷ XX, thế kỷ chói sáng nhất về những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhưng cũng bạo liệt nhất về chiến tranh và hũy hoại môi trường. Chúng ta giật mình thấy rõ, chính con người vừa nâng cao mức sống nhưng cũng vừa gây hại cho bản thân mình. Giông bão, lũ lụt, dịch họa mỗi năm càng tăng về số lượng và về mức độ tàn phá, một phần do cây rừng đầu nguồn bị đốn chặt tràn lan, phần khác do môi trường sinh thái bị ô nhiễm bởi các khí thải, bởi các chất độc hại từ những khu công nghiệp. Tầng Ozon bị thủng, hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng dần lên, khiến bệnh tật phát sinh và thiên tai dồn dập, há chẳng phải là hậu quả của một nền khoa học tiên tiến nhưng mãi chạy theo lợi nhuận nên quên đi sự tương quan giữa mình và người? III- Ý NGHĨA CỦA BÁO HIẾU VÀ BÁO ÂN Trong thuyết trùng trùng duyên khởi, Ðức Phật dạy mỗi cá thể đều có sự liên hệ hỗ tương và duyên sinh với toàn thể vũ trụ vạn loài, không phải chỉ trong hiện tại mà cả trong vô lượng kiếp quá khứ và tương lai. Với tinh thần đó, rõ ràng con người không thể độc lập tồn tại, mà phải nương tựa nhau, nhờ vả cùng nhau sinh sống. Ngày nay, với phương tiện giao thông và viễn thông phát triển mạnh mẽ, trái đất trở thành ngôi nhà ấm cúng, các dân tộc xích lại gần nhau hơn, thì sự liên hệ hỗ tương này lại càng chặt chẽ. Nếu con người làm điều gì tổn hại đến kẻ khác hay hũy hoại môi trường, đó chính là trở lại làm hại cho bản thân mình. Vì thế, nhớ ơn và đền ơn vừa có ý nghĩa đạo đức đối với người và vật đã giúp đỡ mình, vừa có ý nghĩa tự hoàn thiện mình và bảo vệ sức khỏe thể chất cùng tinh thần của chính mình nữa. Ðạo hiếu đối với cha mẹ là tình yêu thương và lòng biết ơn cao nhất. Người con hiếu thảo ngay tự thân đã cảm nhận một niềm an lạc thanh lương, người khác nhìn cũng đem lòng quý kính. Ðức Mục-Kiền-Liên được chúng ta thờ lạy tôn xưng, không phải vì Ngài là bậc thần thông đệ nhất trong mười đại đệ tử của Phật, mà chính vì Ngài là bậc đại hiếu. Có thể nói, đạo hiếu là căn bản đạo đức của con người và là điều kiện quyết định khiến phân biệt loài người với những loài động vật khác. Ðạo hiếu cũng là bước khởi đầu của tình thương nhân loại, bởi vì có thương được cha mẹ mình, chúng ta mới có thể thương bà con quyến thuộc và tất cả những người quen hoặc không quen biết. Ở một số nước phát triển về văn minh vật chất, con người dần dần phai lạt đi tình cảm gia đình. Con lớn lên là muốn tự lập, xa cha mẹ để được tự do sống cuộc sống riêng mình, thỉnh thoảng có về thăm cha mẹ thì cũng chỉ một vài câu chuyện trao đổi rồi lại ra đi. Từ sự lạnh nhạt trong tình cha mẹ - con cái đến sự lãnh đạm trước nỗi khổ của đồng loại, chỉ là một bước thật ngắn, có phải như thế không? Tinh thần tôn sư trọng đạo là một viên gạch lớn xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, và hiện tại cũng là một vấn nạn đối với gia đình và học đường. Học trò của nhà giáo Chu Văn An ngày xưa, dù làm quan lớn trong triều, lúc đến thăm thầy vẫn phải đứng hầu cung kính, làm điều gì sai quấy vẫn phải bị thầy đánh đòn. Học trò ngày nay, có nhiều kẻ đã không nhớ ơn thầy cũ, ngay cả thầy cô đang dạy, cũng không biết kính trọng thương yêu. Chúng ta nghe quá nhiều trường hợp học trò mắng chửi thầy, đánh đập thầy, thậm chí còn sát hại thầy! Có phải do vật chất thừa thải làm băng hoại tinh thần, hay do không có sự phối hợp chặt chẽ giữa cha mẹ và nhà trường, để giáo dục đầy đủ cho con em về cả kiến thức lẫn đạo đức, ngay từ thuở còn thơ ấu? Ðạo Phật chủ trương biết ơn và đền ơn, không những giúp củng cố tình cảm gia đình và học đường, mà còn mang tính giáo dục cao về đạo đức nhân nghĩa; không những có giá trị trong thời Ðức Phật còn tại thế, mà ngày càng chứng tỏ sự cần thiết phải được nhắc lại và đề cao; không những được học hỏi và thực hiện trong tứ chúng con Phật, mà thiết tưởng cần được phổ biến trong toàn xã hội. Ở nước ta, ngày 20/11 hàng năm được gọi là ngày Nhà Giáo Việt Nam, các học sinh và phụ huynh có dịp tỏ lòng trân trọng biết ơn những người đã khai sáng trí tuệ cho mình và con em mình. Còn đối với những vị Thầy chỉ cho mình con đường sáng, nhờ đó mình thoát khỏi khổ đau và thoát ly sinh tử, thì chúng ta phải làm thế nào để báo đáp? - Ðây là điều mà tất cả những người con Phật chân chính cần suy gẫm. Một mặt khác, bằng cái nhìn duyên sinh, chúng ta thấy rõ sự tương tức và tương nhập của bốn trọng ân. Chúng xoắn xuýt hòa quyện nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau để tạo nên một cốt lõi duy nhất: đó là bổn phận làm người. Trong những kiếp luân hồi bất tận, tất cả chúng sinh đều có thể là cha mẹ, là bà con quyến thuộc của nhau. Chúng ta kính trọng và biết ơn cha mẹ ở đời này, cũng nên nhớ nghĩ đến cha mẹ của mình ở vô lượng đời trước. Như vậy, há chẳng phải lòng hiếu thảo cũng là lòng biết ơn chúng sinh đó sao? Và các thầy cô dạy chúng ta những kiến thức thế gian và xuất thế, há chẳng phải có duyên thân tình ruột thịt với chúng ta ở một kiếp nào đó xa rồi? Lại nữa, nói đến lòng biết ơn đối với Tổ quốc là nói đến tình cảm đồng bào, là tình làng nghĩa xóm. Ðức Phật dạy, cùng đi chung một chuyến đò là đã có duyên với nhau 500 kiếp; chúng ta cùng một dân tộc một đất nước, kết quả này được tạo nên từ bao nhiêu kiếp hạnh ngộ? Cho nên, phóng tầm mắt đến đâu, chúng ta cũng thấy toàn là cha mẹ anh em ruột thịt của mình. Có lẽ nào chỉ vì một chút lợi lộc cho bản thân mà nỡ làm tổn hại đến những người thân thiết ấy? Có lẽ nào trông thấy cha mẹ anh em ta đang đau khổ vì chiến tranh, vì thiên tai, vì bệnh tật ở nơi này nơi khác, mà ta không sẵn lòng san sẻ chút ít tài vật công lao? Khi có được tình thương bao la và bình đẳng đối với mọi người mọi vật, tự nhiên ta sẽ biết cách sống thế nào cho có ân tình ân nghĩa. Ta cũng sẽ tự nhiên trở thành một người đạo đức, vì chính tình thương ấy là tâm từ bi - mật hạnh của một Bồ tát. * * * Nhân ngày Vu-Lan, nhắc lại ý nghĩa Báo hiếu và Báo ân để chúng ta thấy rõ rằng: Ngoài yếu lý của đạo là giác ngộ và giải thoát sinh tử, Ðức Phật còn ân cần chỉ dạy cho chúng ta cách làm người. Nếu chưa biết cách làm người, chúng ta khoan nghĩ đến chuyện thành Hiền thành Thánh. Nhất là trong thời đại hiên tại, thời đại của toàn cầu hóa, của cuộc cách mạng tin học thâm nhập đến tận mỗi tế bào, thời đại của tiện nghi vật chất tiến theo tỉ lệ nghịch với sự phát triển tinh thần, luân lý và đạo đức; thì mỗi người con Phật chúng ta, phải tự thấy mình có trách nhiệm lớn. Chúng ta phải thắp sáng ý thức của mình bằng ngọn đuốc chánh pháp của Phật; phải tinh tấn tu hành, nỗ lực công phu. Ðồng thời, vì những ơn nghĩa đã mang từ bao kiếp, chúng ta phải thương yêu và giúp đỡ tất cả mọi người mọi vật, bằng khả năng sẵn có của mình; rồi tùy duyên hướng dẫn người xung quanh hiểu và làm theo lời Phật dạy, trong tinh thần Tứ nhiếp pháp. Chúng ta cũng góp một phần công sức nhỏ nhoi của mình vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, để hành tinh xanh yêu quí này mãi mãi là viên ngọc tuyệt vời trong vũ trụ bao la. Làm được những việc tốt đạo đẹp đời như vậy, chúng ta mới có thể báo đền bốn ơn nặng này trong muôn một!
[Thích Thông Huệ]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz