Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Tin tức Phật sự >>  Quốc nội
Đạo Hiếu Của Người Con Phật
Một ngày nọ, Ðức Phật cùng chúng Tỳ-kheo đi qua một vùng đang gặp thiên tai mất mùa, người chết đói nhiều vô kể. Ngày thứ nhất đi khất thực, Ngài về tay không; ngày thứ hai, thứ ba cũng không có ai cúng dường.
Trong hàng đệ tử có một vị Tỳ-kheo, thấy Ðức Phật là Ðấng Phước điền vô thượng mà phải nhịn đói suốt ba ngày, không cầm nổi bi thương, nên mang ba lá y của mình vào làng, đổi lấy bát cơm dâng lên Ðức Phật.

Khi nghe vị Tỳ-kheo trình lại sự việc. Ðức Phật bèn quở:

- Lá y là tướng phước điền của thế gian, rất quý trọng đối với một Sa-môn. Vậy mà ông dám đổi lấy bát cơm cúng dường Như-Lai. Như-Lai không thể tiêu nổi cơm này, nên không dám thọ nhận.

Vị Tỳ-kheo vô cùng đau khổ, khóc bạch Phật rằng:

- Bạch Ðức Thế Tôn, Người không thọ nhận bát cơm nầy thì con biết phải làm sao?

Ðức Phật bảo:

- Ông hãy đem cơm về dâng cha mẹ.

Vị Tỳ-kheo thưa:

- Ðức Thế Tôn là bậc tôn quý nhất của Trời người mà không tiêu được cơm này, thì cha mẹ con là người thế tục, làm sao tiêu nổi ?.

Ðức Phật dạy:

- Cha mẹ ông tuy là người thế tục, nhưng nếu biết ông có lòng hiếu thảo, dùng ba lá y đổi lấy cơm cúng dường cha mẹ, các vị sẽ phát tâm kính tín Tam bảo. Khi ấy cơm này tiêu được.

Ðây là một trong những chuyện tiêu biểu dạy về đạo hiếu cho những người con Phật, từ những bậc tu sĩ xuất gia đến những hàng cư sĩ tại gia. Bản thân Ðức Phật đã nêu nhiều gương sáng về lòng hiếu đạo đối với song thân trong nhiều đời kiếp. Khi đã thành đạo, Ngài lên cung trời Ðao-Lợi giáo hóa cho mẫu thân, về hoàng cung hướng dẫn vua cha và di mẫu biết cách tu hành chứng quả. Ngài đã tự mình khiêng quan tài vua cha đến nơi trà tỳ khi vua Tịnh Phạn băng hà. Hình ảnh cảm động và có sức thuyết phục nhất là hình ảnh Ðức Phật quỳ lạy đống xương khô mở đầu bài kinh Báo phụ mẫu trọng ân, đã đánh thức và làm tăng trưởng lòng hiếu thảo của tất cả mọi người con Phật, từ ngàn xưa mãi đến ngàn sau.

Phong tục Việt Nam còn giữ lại nét đẹp truyền thống phương Ðông, cha mẹ sống sum vầy cùng con cháu; có gia đình cả ba bốn đời cùng ở chung một nhà, gọi là Tam Tứ đại đồng đường. Các nước phương Tây lại khác, thường thích sống độc lập; con cái đến tuổi trưởng thành là ra ở riêng, cha mẹ già đưa vào nhà dưỡng lão, tuy vật chất đầy đủ nhưng tình cảm gia đình không được thắm thiết. Nhiều người già được bảo lãnh theo diện đoàn tụ, qua đó một thời gian đã thấy nhớ quê hương da diết, không hòa nhập với cuộc sống xứ người. Nhất là trong những gia đình đã thâm nhập nền văn minh hiện đại, mỗi người là một ốc đảo, sự liên hệ giữa các thành viên không còn khắng khít, tình cảm đối với người trưởng thượng không còn thiêng liêng, thì người già càng mang mặc cảm tủi buồn của một kẻ sống thừa ăn bám. Thật ra, người già thường có rất ít nhu cầu vật chất, nhưng nhu cầu về tinh thần tình cảm lại nhiều. Nếu không hiểu rõ điều này để khéo cư xử, chúng ta có thể vô tình làm các Người buồn giận, khiến tuổi xế chiều càng ảm đạm hơn.

Kinh Tạp Bảo Tạng có đoạn: "Nếu có người muốn được vua Phạm Thiên ở trong nhà, hãy hiếu dưỡng cha mẹ, vua Phạm Thiên đã có ở trong nhà. Muốn có Ðế Thích ở trong nhà, hãy hiếu dưỡng cha mẹ, Ðế Thích đã sẵn ở trong nhà. Muốn tất cả Thiên thần ở trong nhà, hãy hiếu dưỡng cha mẹ, tất cả Thiên thần đã sẵn có ở trong nhà. Cho đến muốn cúng dường Thánh Hiền và Phật, chỉ cúng dường cha mẹ, các vị Thánh Hiền và Phật đều ở trong nhà". Ðức Phật đã ví cha mẹ với những bậc cao cả như Trời Phạm Thiên, Ðế Thích là những cõi Trời cao nhất của ngoại đạo thời bấy giờ; với các vị Thánh Hiền và ngay cả với Phật là ngôi tôn quý nhất của tất cả chúng sanh. Thế mà có người muốn cầu phước báo, thường đến chùa cúng dường Tam bảo, tụng kinh niệm Phật chí thành, nhưng lại đối xử tệ bạc với cha mẹ. Người ấy thật sự không có căn bản đạo đức; cha mẹ là người ơn cao cả nhất mà không thương kính, thì họ không thể thương kính ai thật lòng. Việc đi chùa như thế không có ý nghĩa và cũng không mang lại kết quả gì.

Ðối với người cư sĩ tại gia, nếu cha mẹ còn sinh tiền là một phước duyên rất lớn, vì cha mẹ chính là Phước điền thế gian. Chúng ta cố gắng làm các người hài lòng thỏa mãn, vui sống trong những ngày còn lại của cuộc đời, về cả ba phương diện: vật chất, tinh thần và tâm linh. Về vật chất, chúng ta chăm lo cho cha mẹ theo khả năng của mình, thuốc thang chu đáo khi các Người đau ốm. Về tinh thần, chúng ta cần khéo léo hòa hợp, dạy dỗ con cái biết kính trọng thương yêu ông bà. Vì người già thường cảm thấy cô độc, hay giận hờn, hay tủi thân, đôi khi có những quan điểm hơi bảo thủ lạc hậu, chúng ta nên biết cảm thông, trân trọng và thường xuyên gần gũi. Về tâm linh, chúng ta hướng cha mẹ vào con đường hiền thiện, quy y Tam bảo, giữ gìn giới cấm. Nếu cha mẹ đã là Phật tử, chúng ta tạo điều kiện cho các Người được gần gũi các bậc tôn túc để trưởng dưỡng đạo tâm, thường xuyên cho các Người nghe các băng giảng về pháp tu chuyển nghiệp và dừng nghiệp, sách tấn các Người hành trì theo pháp môn đã chọn tùy trình độ và căn cơ. Nếu cha mẹ chưa hiểu gì về đạo pháp, lại thường tạo ác nghiệp hay theo đạo tà, chúng ta cần hết sức kiên nhẫn và khéo léo. Một mặt, chúng ta dần dần khuyên giải; mặt khác, chúng ta phải nỗ lực tu hành và làm nhiều Phật sự, hồi hướng công đức ấy cho cha mẹ và tất cả chúng sanh cùng khắp pháp giới. Khi tâm ta thanh tịnh, tự nhiên sẽ chuyển được hoàn cảnh xung quanh và ảnh hưởng tốt đẹp đến tâm các Người. Ðây là một điều kỳ diệu khó thể nghĩ bàn, nhưng rất gần với thực tế.

Một vị Bà-La-môn niên thiếu hỏi Phật: "Bạch Ðức Thế Tôn, con thường đi khất thực đem về cúng dường cha mẹ, khiến lìa khổ được vui. Thế Tôn, con làm như thế được phước gì chăng?". Ðức Phật bảo: "Thật được phước nhiều. Tại sao? Nếu có người y như pháp khất thực để cúng dường cha mẹ khiến Người lìa khổ được vui, thật có đại phước". Sau đó Ngài đọc bài kệ:

Như pháp đối cha mẹ

Cung kính nên cúng dường

Hiện đời được tiếng tốt

Mạng chung sanh cõi trời.

Ðoạn kinh trên trích trong tập 4 Tạp A-Hàm, cho thấy Ðức Phật không những dạy về đạo hiếu cho hàng cư sĩ tại gia, mà còn chú trọng về lòng hiếu thảo cho những bậc tu sĩ xuất gia. Không phải cát ái từ thân là tuyệt đối lìa bỏ gia đình, mà là chuyển sự ái luyến có tính vị kỷ chiếm hữu thành tình thương bình đẳng vị tha đối với tất cả người thân, trong đó có cha mẹ. Trước khi làm lễ xuất gia, người Phật tử lạy cha mẹ ba lạy để tỏ lòng biết ơn sanh thành dưỡng dục của các Người. Sau khi thọ giới, người xuất gia do công đức tu hành lớn hơn cha mẹ, không dám lễ lạy cha mẹ nữa, e các Người tổn phước. Tiếng nói của người con đi tu thường có trọng lượng hơn những đứa con khác trong gia đình, nên đôi lúc có thể hòa giải những mâu thuẫn nội bộ, góp ý trong việc hướng nghiệp, mưu sinh, có thể bảo ban về cách đối nhân xử thế và hướng dẫn phương pháp tu hành cho cha mẹ và các thành viên trong gia đình. Ðiều này cho thấy, làm tròn chữ hiếu thế gian là chăm lo về vật chất và tình cảm cho cha mẹ thì người cư sĩ có điều kiện hơn; còn làm tròn chữ hiếu xuất thế gian là hướng dẫn sách tấn cha mẹ tu hành theo chánh pháp, thì người tu sĩ lại dễ thực hiện có kết quả. Người con tu sĩ lại cũng có khả năng cùng với tăng đoàn, chú nguyện cho cha mẹ đã khuất, sớm được vãng sanh về các cõi lành, theo tinh thần "Một người hành đạo, cửu huyền thất tổ siêu thăng". Như vậy, quan niệm người xuất gia "cát ái từ sở thân" là bất hiếu, quan niệm ấy không đúng lẽ thật; mà phải nói rằng, chính người xuất gia mới là người con đại hiếu đối với cha mẹ, không chỉ cha mẹ trong đời này mà còn trong nhiều kiếp về trước.

Ngày rằm tháng bảy là dịp để chúng ta thể hiện lòng tôn kính biết ơn của mình đối với các bậc sinh thành, trong hiện tại và cả trong quá khứ. Nhưng không phải chỉ đợi đến ngày này chúng ta mới thể hiện lòng hiếu thảo, mà phải từng giây phút luôn ghi nhớ công ơn của các Người, phải từng phút giây thương yêu các Người bằng một tình cảm chân thành và thiêng liêng nhất. Một nét đẹp trong ngày Vu Lan là chương trình Bông hồng cài áo. Người cài hoa hồng vui mừng khi mình còn cha mẹ hiện diện trên cõi đời, còn được hưởng tình thương bao la trời biển của các Người, còn có dịp báo đáp ân nghĩa nầy trong muôn một. Người cài hoa trắng tủi buồn vì song thân đã khuất bóng, nhưng cũng nhớ đến đạo Hiếu mà làm nhiều Phật sự như cất chùa hộ tăng, bố thí cúng dường để hồi hướng công đức cho cha mẹ, đồng thời dạy bảo con cháu biết giữ gìn giềng mối gia phong. Như thế, dù cha mẹ còn sống hay đã khuất, chúng ta cũng có nhiều cơ hội báo hiếu tùy hoàn cảnh và khả năng của mình. Là Phật tử, chúng ta không những phải lo tròn chữ Hiếu thế gian, mà còn nên cố gắng thực hiện tốt chữ hiếu xuất thế. Bởi vì, nếu Ðức Phật và các bậc Thánh chúng là phước điền bậc nhất xuất thế gian, thì cha mẹ là phước điền bậc nhất trong thế gian sinh diệt nầy.
[Thích Thông Huệ]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz