Luân Hồi
 
Tìm kiếm: Tìm trong :   TÌM KIẾM NÂNG CAO - new
Kính Thầy,

Cháu Ánh mới điện thoại cho con nói lại lời Thầy dặn.

Trước hết con kính lời thăm Thầy, kính chúc Thầy vô lượng... Read more
Trương Thị Gấm 
TIN TỨC >>  >Tin nội bộ >>  Đạo Hữu viết
Vô Minh Qua Tứ Thánh Đế
Bồ-tát Tất-Đạt-Đa sau khi tu hành thành chánh quả đạt mười danh hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh, Hạnh Trúc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Muôn loài đều tôn kính ca ngợi một vị Phật. Ngài thành Phật rồi nhưng chưa đi thuyết pháp, vẫn ngồi thiền định tại gốc Bồ-đề và đi kinh hành chánh niệm tĩnh giác an trú trong pháp lạc.
Một sự kiện khác khởi lên đó là thiện và ác ngoại duyên tác động Ngài. Ma-ba-tuần đến thỉnh Ngài nhập diệt, phạm thiên Sahamphathi đến cung thỉnh Ngài thuyết pháp. Ma-ba-tuần thì nói các pháp mà ngài chứng ngộ nó ra không có ai thích, vì lúc này chúng sanh đang còn ham muốn dục lạc ở đời. Mà pháp Ngài dạy là phải xa lìa dục lạc thì làm sao chúng sanh tu tập theo pháp môn của Ngài được. Bởi vậy, Ngài diệt độ sớm đi. Phạm thiên Sahamphathi cung thỉnh Ngài thuyết pháp. Vì thấy rằng những chúng sanh ít bị vô minh bao phủ nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại.

Thiện là đại diện cho phạm thiên Sahamphathi, ác là đại diện cho Ma-ba-tuần, ác thì thỉnh Ngài diệt độ, thiện lại thỉnh Ngài thuyết pháp. Đức Phật ra đời là vì chư thiên và loài người (chúng sanh). Ngài đi tìm đạo để cứu chúng sanh đang trôi lăn trong bể khổ sanh tử, Ngài muốn tất cả chúng sanh ra khỏi bể khổ chấm dứt luân hồi. Vì vậy Ngài quyết chí xuất gia tu hành thành Phật, đương nhiên Ngài sẽ thuyết pháp cho chúng sanh.

Đức Thế Tôn quyết định lên đường đi thuyết pháp. Ngài đi đến Ba-la-nai (Varanasi), chỗ chư tiên đoạ xứ để độ năm người bạn đồng tu khổ hạnh trước đây với Ngài "cửa bất tử đã mở rộng, ai có tai hãy nghe". Thế là Ngài đã hứa khả đem giáo pháp mà Ngài đã tu chứng gieo rắc phàm nhân. giáo lý giải thoát từ đây sẽ đến tai muôn loài, nếu ai muốn lắng nghe thì phải hướng tâm cầu pháp tu hành mới đạt được giải thoát tại tâm. "Cửa bất tử" đã mở rộng nghĩa là cảnh giới Niết-bàn. "Ai có tai hãy nghe" đã là con người thì ai cũng có tai nghe. Nhưng tai này là một loại tai khác với tai ham muốn dục lạc thường ngày của chúng sanh. Tai này là loại tai thích nghe chánh pháp Phật Đà dạy. Tai này rất quan trọng nó có khả năng giúp những ai muốn thoát ly sanh tử vượt qua màng vô minh để thấy ánh sáng của minh.

Đức Phật thuyết Tứ-thánh-đế, bài pháp này Ngài chỉ cho chúng sanh thấy rõ con đường tu tập để tránh xa hai cực đoan. Một là theo thú vui của nhục dục ở đời. Hai là khổ hạnh ép xác. Tứ-thánh-đế là:"Đây là thánh đế về khổ, này các Tỳ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi ưu não là khổ, oán ngặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ". Đây là thánh đế về khổ tập, này các Tỳ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, vô hứu ái". Đây là thánh đế về khổ diệt, này các tỳ kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái này, sự quăng bỏ, giải thoát không có chấp trước". "Đây là con đường đưa đến khổ diệt, này các tỳ kheo, chính là con đường chánh đạo tám nghành, tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định" (1).

Đức Phật thuyết Tứ-thánh-đế này cho hàng đệ tử nói riêng và cho những ai có tai lắng nghe diệu pháp Phật Đà để có niềm an lạc tự tâm. Con người sống trong đời này phần nhiều đều có sự phiền não khổ đau hiện lên trong tâm mình vì tuệ giác bị mê mờ. Ở đời được mấy ai có niềm vui lâu dài. Sự khổ nằm thâm sâu ở cõi hồng trần này đã khiến cho chúng sanh không thấy được con đường giải thoát. Cuộc sống con người tà kiến dẫn đến điên đảo mộng tưởng nên không liễu tri được Tứ-thánh-đế nên gọi là vô minh qua Tứ thánh đế. Đức Phật chứng ngộ là quán pháp Lý-duyên-khởi mà lại đem giáo pháp Tứ-thánh-đế thuyết giảng cho đời làm pháp môn căn bản để tu tập. Pháp môn này hiện thật trong cuộc sống thường nhật của chúng sanh. Bởi vậy, Ngài đã chỉ dạy rất rõ các thánh đế cho chúng sanh hiểu biết để tránh sự đau khổ trong kiếp sống.

"Đây là thánh đế về khổ, này các tỳ kheo đối với pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh" (thị chuyển). " Đây là thánh đế cần phải liễu tri, này các Tỳ-kheo, đối với các pháp Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh" (khuyến chuyển). "Đây là thánh đế về khổ đã được liễu tri, này các Tỳ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh" (chứng chuyển). Thánh đế về tập, thánh đế về diệt, thánh đế về đạo Ngài chỉ dạy cũng tương tự như thánh đế về khổ". (2).

Đức Thế Tôn đã dạy một thánh đế qua ba chuyển là thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển. Tứ-thánh-đế gồm có mười hai hành tướng. Thị chuyển là Ngài thấy rõ duyên khởi khổ đau và chỉ cho chúng sanh thấy rõ duyên khởi khổ đau. Khuyến chuyển là Ngài liễu tri rõ Duyên-khởi khổ đau nhờ có quán chiếu thấy rõ khổ ấy và khích lệ chúng sanh cần phải tu tập để liễu tri duyên khởi khổ đau. Chứng chuyển là Ngài đã chứng ngộ dứt hết khổ đau. Chúng sanh nên tu chứng để chuyển khổ đau thành an lạc giải thoát. Đây là lời dạy đích thật của Đức Thế Tôn nếu ai tu tập theo sẽ dứt hết khổ đau và sanh tâm an lạc giải thoát. Đế (pali: alyathaka, phạn: sathya): Tức là một chân lý, một pháp thật có, những sự kiện hiển nhiên không bàn luận là như vậy. Lời dạy của Ngài ngoài cuộc sống không có, nó nằm trong đời này cứ diễn biến theo lẽ sống. Kinh viết rằng: " Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác".

Con người do tham-sân-si, tà kiến, mạng nghi, phiền não, . những khổ đau hiện khởi trong con người là không tránh khỏi, nguyên nhân đó do vô minh chi phối. Vì vậy khổ vẫn còn diễn biến phức tạp trong cuộc sống con người. Trong kinh Tương Ưng II trang 4 đức Phật dạy: "không hiểu Tứ Thánh Đế gọi là vô minh". Tứ Đế gồm có: Khổ đế, tập đế, diệt đế, và đạo đế. Khổ đế (Dukkha): Người đời thường quan niện rằng, Đạo Phật là bi quan yếm thế nói lên khổ đau làm cho con người bị nhụt chí. Chứng tỏ rằng người đó bị vô minh che lấp nên nói như vậy. Nếu ai nói được sự khổ theo quan niêm Phật Giáo thì người đó phải hiểu giáo lý Phật dạy như thế nào. Khổ này người đời hiểu là quá tuyệt vọng, không còn thích sống nữa. Nhưng thật ra khổ mà Đức Thế Tôn dạy có bốn hành tướng khác nhau là: Vô thường, khổ, không, vô ngã. Khi hiểu được bốn hành tướng đó mới có khả năng nói được sự khổ của Phật Giáo.

Vô thường nghĩa là: Các pháp không đứng yên một chỗ mà nó như thế này như thế khác, di dịch, biến chuyển, không nhất định. Không nghĩa là: Cái này không thì cái khia cũng không "sắc sắc, không không". Không này là trống rỗng. Vô ngã nghĩa là: Tất cả các pháp điều không có ngã tánh vì nó duyên sanh mà có "pháp bất cô khởi" nó không thật có. Khổ: khổ này gọi là Dukkha, sự khổ ở đời mà không thể chối cải được. Ở trong kinh Phật dạy có tám sự khổ: Sanh, già, bệnh, chết, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạnh khổ. Sanh là khổ Đức Phật dạy rằng: "Mỗi mỗi loài chúng sanh, trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành tái sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn gọi là sanh". Các duyên hoà hợp với nhau mà thành thì gọi là sanh. Con người sanh ra cũng phải đầy đủ mọi yếu tố, các duyên hoà hợp như tinh huyết cha mẹ, hơi ấm nghiệp thức, . mới hình thành bào thai. Chính bào thai này là nghiệp mới, nghiệp này là kết quả của ái, thủ, . vô minh. Khi sanh trẻ chui qua chỗ chật hẹp bị đau đớn ( có những trẻ không chịu chui ra từ chổ đó mà phải mổ xẻ ở bụng mẹ rồi mới đem ra hoặc có những bào thai cấy trong ống nghiệm rồi ra đời) và bắt đầu có một môi trường sống mới. Chính môi trường mới làm cho trẻ quên đi môi trường cũ những chuyện quá khứ. Còn người mẹ khi đứa con sắp chào đời thì đau đớn vô cùng, lúc sanh người mẹ lẫn con đau đớn khổ sở lắm. sự khổ này nhà thơ Nguyên Công Trứ dùng ngoài bút miêu tả khi trẻ vừa chào đời:" Thoạt sanh ra thì đã khóc choé,trần có vui sao chẳng cười khì".

Thật vậy, con người sanh ra rồi không phải hết sanh mà vẫn tiếp tục sanh diệt theo từng sát na của thời gian vô thường, biến dịch, trôi chảy ngoài ý chủ động của mình. Sự vô thường biến hoại là báo hiệu già nua.Già là khổ: Người khi trẻ khoẻ chưa thấy buồn vì già, nhưng theo thời gian thì thân tứ đại này mòn mõi, già đi và cảm thấy gần đất xa trời. Một ngày đã qua mạng sống giảm dần như cá thiếu nước đâu có gì vui. Bởi vậy khi thấy tuổi già đến thì cảm thấy buồn bả, sống mệt mỏi, tóc bạc, da nhăn, . thật đúng như vậy. Vì lúc này tứ đại hoà hợp với nhau hơi khó nó cũng theo quy luật có hợp rồi tan mà thôi. Tục ngữ có câu rằng: "Già nua là cảnh điêu tàn, cây già cây cõi, người già người si".Bệnh là khổ: Con người đã có tấm thân vật lý này ắt có sự biến hoại, các uẩn không hoà hợp thì gọi là bệnh. Mỗi khi có bệnh là khổ. Dù đau đầu hay đau răng . đều khổ. Nhưng mà con người có biết nỗi đau ấy nguyên nhân do đâu mà chịu đựng được hay không. Nếu như biết nguyên nhân của bệnh rồi chịu đựng chấp nhận được nó nỗi khổ sẽ được giảm đi, còn không chấp nhận nó khổ càng khổ thêm.

Chết là khổ: Sự chết làm cho con người đau khổ, kinh hãi, đáng sợ nhất. Vì chết là sự biến hoại cuối cùng mạng sống con người. Khi người ta đang yêu quý tấm thân này. Có hiện trượng xảy ra là tim ngưng đập, tứ đại biến hoại, tâm thức không làm chủ được. Trong văn cảnh sách viết: "Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng". Nghĩa là phía trước thì man mác, không biết về đâu. Làm sao con người tránh khỏi bị băn khoăn, lo lắng về tương lai mình sau khi xã bỏ thân tứ đại này rồi ra sao đây? Đi đâu về đâu?

Ái biệt ly khổ: Nói về ái là sự rắc rối nhất của cuộc đời. Ái là thương yêu giữa chủ thể và khách thể, giữa mình và đối phương. Ví như: Mình đang sống với người mình thương yêu vì lý do nào đó làm hai người phải chia cách, khổ sẽ hiện lên trong tâm.Cầu bất đắc khổ: Phàm ở đời ai cũng mong muốn mình sẽ được cái mà mình thường mơ tưởng ao ước. Nào ngờ đâu tạo hoá trêu ngươi. Cuộc sống trên đời được mấy người như ý, còn lại sống trong thất vọng vì mong muốn không thành.

"Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng nám mùi dâu".
(Ôn như hầu.)

Oán tắng hội khổ: Rằng người ở đời không chấp nhận với nhau mà sống chung hoặc những người mình không thích, những người mình có thành kiến. Tục ngữ có câu:
"Thấy mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt, ở chung với người nghịch như nếm mật nằm gai".

Ngũ ấm xí thạnh khổ: Ngũ ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những ấm này nó cũng vô thường khi nhỏ lại, khi lớn dần cũng làm cho con người cảm thấy khổ khi không chấp nhận sự thay đổi ngoài ý muốn. Ví như: Người bị bệnh thận cả người phù lên làm cho thân thể thay đổi khó chịu đây là nguyên nhân đưa đến khổ sở và bị còi xương cũng không khác. Đức Phật chỉ nguyên nhân sự khổ cho con người thấy để đối trị chứ không phải thấy khổ rồi xuôi tay. Làm thế nào để đối trị là chỉ có tu hành và xã bỏ phải có tấm lòng từ bi bao la, nói tóm lại là Bi-Trí-Dũng luôn sanh khởi. Tám sự khổ này nó luôn luôn đeo đuổi bên người như bóng theo hình. Mọi sự khổ đau nó ngấm ngầm nếu đủ duyên là hiện hữu. Những sự khổ này trong cuộc sống thường nhật của con người được gọi là Dukkha, sự khổ này có thể biểu hiện qua ba hành tướng khác.khổ khổ (Dukkha-Dukkha): Chỉ là khổ đau thông thường thuộc khổ thọ. Hoại khổ (viparigama- dukkha): Do thay đổi đột ngột mà khổ, thuộc lạc thọ. Hành khổ (sanikhara-Dukkha): Các pháp do duyên sanh chuyển động nên vô thường biến hoại trong từng sát na mà khổ đau, thuộc xã thọ. (3)Tập đế (Dukkha-samudaya): Tập đế nghĩa là: Sự huân tập mọi duyên, như sự buồn vui lẫn lộn trong cuộc sống hàng ngày của chúng sanh. Đây là nguyên nhân tác thành nghiệp khổ đau. Tập đế cũng có bốn hành tướng là: Nhân, tập, sanh, duyên.Nhân là nguyên nhân để hình thành pháp nào đó. Tập là huân tập các pháp thiện và bất thiện tập hợp lại. Sanh là những sự kiện có khả năng sanh khởi. Duyên là các pháp thường ác động liên quan với nhau mà thành.Khổ đau của con người do ái, ham muốn đủ mọi thứ tập hợp lại nguyên nhân này tái diễn sanh tử. Ái này gồm có ba loại: Dục ái, hữu ái, vô hữu ái.

Dục ái là sự tham muốn của cõi dục. Con người do ái chi phối sai khiến nên đi lạc vào con đường sanh tử luân hồi. Ví như: Đắm say mê muội trong dục vọng lục căn (nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) do nhân này duyên này mà trôi nỗi trong bể khổ. Hữu ái: Ở cấp độ này sự ham muốn tuy nhẹ hơn dục ái nhưng nó còn nằm trong vòng dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Vô hữu ái nghĩa là: Cõi này sự ham muốn dục vọng gần như không còn nữa. Nhưng còn tư tưởng đoạn kiến cho rằng chết là hết. Vì tư tưởng chấp đoạn này cho nên không thoát khổ hoàn toàn.Nói đến ái là yêu thích ham muốn. nguyên nhân này chịu sự luân hồi trong tứ sanh (noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hoá sanh) và trong lục đạo (thiên, nhân, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Nguyên nhân luân hồi này do tuệ giác mê mờ cho nên bị vô minh chi phối nghiệp thức của chúng sanh.

Diệt đế ( nirodha): Diệt đế là giải thoát, tịch diệt, Niết-bàn chính là chấm dứt tham ái, không còn ái nhiễm nữa. Diệt đế cũng có bốn hành tướng là: Diệt, tịnh, diệu, ly. Diệt là dứt được phiền não. Tịnh là trong suốt như viên ngọc, tịnh như băng tuyết. Diệu là chỉ sự chứng ngộ của Đức Phật. Ly nghĩa là: Ly phiền não sanh tử không còn tái sanh nữa.Con người dứt trừ tam độc, không còn ý nghĩ sai lầm, khổ đau không hiện khởi thì vô minh đã dứt hết, lúc đó trạng thái Niết-bàn sẽ xuất hiện. Bởi Niết-bàn là trạng thái giải thoát an lạc, là sự vắng mặt phiền não. Khi con người dứt hết khổ đau phiền não chỉ còn lại trong tâm an lạc thì lúc đó là trạng thái Niết-bàn đang sanh khởi. Con người sanh khởi niềm vui giải thoát an lạc lâu chừng nào thì khổ đau phiền muộn biến mất chừng đó.

Chúng ta phải hiểu rằng ngôn ngữ không thể diễn tả hết Niết-bàn. Bởi vì Niết-bàn không định hình như thế nào, vô phương sở. Muốn chứng Niết-bàn thì phải ngăn chặn mọi duyên tác động và sanh khởi, đạt đến như vậy hành giả phải chọn con đường tu hành cho mình.Đạo đế (magga): Đạo là đưa đường dẫn lối. Đế là chân lý đích thật giúp hành giả đạt giải thoát hoàn toàn. Đạo đế là con đường tu tập đúng chánh pháp của Như Lai đã dạy. Nó cũng có bốn hành tướng: Đạo, như, hành, xuất.

Đức Thế Tôn dạy cho hàng đệ tử rất nhiều pháp môn khác nhau bởi vì căn cơ của chúng sanh không giống nhau. Cho nên Ngài dạy rất nhiều pháp môn cho phù hợp với căn cơ mỗi chúng sanh. Giống như bác sĩ tuỳ bệnh mà cho thuốc. Mặt dù nhiều pháp môn khác nhau nhưng hàm chứa Đạo đế này. Bởi Đạo đế là con đường đưa đến giải thoát đích thực. Trong phần này gồm có Bát-chánh-đạo gồm có: Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Chi phần tám ngành này giúp hành giả đạt giải thoát. Và Đạo đế cũng có Ba-mươi-bảy-phẩm-trợ-đạo là: Tứ chánh cần, tứ như ý túc, tứ niệm xứ, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám thánh đạo, lục độ vạn hạnh đây là những pháp môn căn bản phải tu tập để giải thoát hoàn toàn không còn bị vô minh chi phối.Tất cả giáo lý Phật Đà thuyết giảng không đi ra ngoài Giới-định-tuệ hành giả nào thực hành pháp môn đó gọi là chánh đạo. Mỗi hành giả khi được thọ giới nhà Phật thì người đó có một năng lực rất lớn. Khi hành giả thọ giới và giữ giới thì người đó không làm các việc ác mà chỉ làm các việc lành có lợi cho người và trời. Giới pháp nhà Phật chỉ dạy làm lành lánh dữ. Tu giới là ngăn ngừa các hữu lậu, phiền não khó sanh. Đậy là trợ duyên rất lớn cho người tu thiền định. Tu định là chỉ cho những hành giả muốn giải thoát, gạt bỏ mọi tạp niệm, lắng đọng tâm tư trở về với bản tánh như như chứng Niết-bàn. Tu huệ là những ai muốn có tuệ giác Bồ-đề để quán triệt tiêu vô minh.Hành giả nào muốn không còn bị vô minh chi phối chỉ có một cách là phải tu giới, tu định, tu huệ, pháp môn này là phương pháp để giúp hành giả trở thành bậc Thánh an trú trong Niết-bàn.Khổ đế và Tập đế được xem như là còn nhiễm, vì vô minh nên huân tập các pháp bất thiện, nhiễm ái, tham sân si, tà kiến chấp thủ, . đưa đến kết quả khổ, nó còn là thế gian pháp.

Diệt đế và Đạo đế thuộc về phần tịnh, đây là lời dạy chân thật đúng chánh lý giúp hành giả dứt trừ phiền não, khổ đau đạt đến tịch tịnh, chứng và trú Niết-bàn trong cuộc sống hàng ngày. Hai pháp môn này gọi là pháp xuất thế gian.

Đức Thế Tôn biết được tâm lý chúng sanh nên dạy quả trước nhân sau. Trong kinh viết rằng: "Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả". Con người bị vô minh che lấp nên không thấy được nguyên nhân ban đầu của sự việc khổ đau. Chúng sanh chỉ khi nào kết quả xảy ra rồi mới biết và lúc đó hối tiếc cũng không kịp vì đã thành. Khi ván đã đóng thuyền rồi có nghĩa là nghiệp đã thành. Mỗi khi nghiệp quả thành phải đón nhận nó thì khổ sẽ khởi lên. Nguyễn Du đã từng nói:

"Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa".

Nguyễn Du là người nghiên cứu giáo lý nhà Phật ông hiểu được nghiệp trong nhà Phật nên nói trời ở đây ví như nghiệp. Trời gần là nghiệp mới hoặc hiện tại, trời xa là nghiệp cũ hoặc quá khứ. Chứ không phải là vị thần thưởng phạt tạo dựng nào cả.

Đức Thế Tôn dạy cho hàng đệ tử đây là thánh đế về khổ, đây là thánh đế về tập, đây là thánh đế về khổ diệt, đây là thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt. Chữ Thánh này chỉ gọi cho những ai đã chứng từ Sơ quả đến Tứ quả đang vượt qua ái nhiễm rồi bỏ gánh nặng xuống tức là ly ái.

Ví dụ: Mình cầm cái bánh, cái bánh này mình giả dụ cho nó là ái, khi mình bỏ cái bánh xuống không cầm trên tay nữa thì xem như là mình dứt trừ ái hoàn toàn. Không còn gánh nặng ở đời. Nhưng khổ nỗi con người mấy ai chịu buông xuống được. Chính sự không chịu bỏ ngánh nặng xuống. Cho nên gọi là vô minh qua Tứ Thánh Đế. Tứ thánh đế là pháp môn để trợ duyên cho hành giả dứt trừ vô minh.

Giáo lý Tứ thánh đế là pháp môn căn bản nhất hầu như các bài pháp mà Đức Phật giảng dạy cho hàng đệ tử đều hàm chứa pháp môn này. Những lời dạy của Đức Thế Tôn đều nói lên sự khổ do huân tập các pháp bất thiện và rồi chỉ cho chúng sanh biết cách diệt khổ. Chúng ta thường thấy sau cơn mưa trời sẽ tạnh và sáng. Con người cũng vậy một khi dứt khổ sẽ vui, dứt ái hết sanh tử trong khổ đau. Vô minh làm cho con người quên đi lối về khi hết vô minh thì con người sẽ quay về với bản tánh của mình. Bản tánh đó chính là Phật tánh.
------------------
Chú thích: (1,2) Kinh Tương Ưng Bộ quyển 5 phẩm chuyển pháp luân, trang 611, 612. Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch
3 Trích phật học khái lược. Hoà Thượng Thích Chơ n Thiện.
[Thích Chánh Tịnh]
(Source: )
  Google Boomarks   Google Buzz